Quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm khu vực nhà nước

Mai Lâm
(TBTCO) - Theo đề xuất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, người lao động tại khu vực nhà nước bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ năm 2025 trở đi thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng để tính lương hưu, trợ cấp một lần.
aa
Quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm khu vực nhà nước
Nguồn: Dự thảo Luật Bảo hiễm xã hội (sửa đổi) Đồ họa: Văn Chung

Tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng toàn bộ quá trình

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014, đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu được tính theo tiền lương của một số năm cuối trước khi nghỉ hưu. Việc điều chỉnh tiền lương tháng đã đóng BHXH được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm nghỉ hưu.

Tuy nhiên, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) cho rằng, quy định này sẽ không còn phù hợp khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang. Lý do là tiền lương có thể có những thay đổi đột biến, nên nếu tính lương hưu trên tiền lương của một số năm cuối có sự thay đổi đột biến là không phù hợp và phát sinh bất cập lớn giữa những người nghỉ hưu xung quanh khoảng thời gian trước và sau thời điểm cải cách.

Vì vậy, tại dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), Bộ LĐTBXH đề xuất quy định về thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính cho đến khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, theo Nghị quyết số 27- NQ/TW.

Thời gian đóng BHXH từ khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang thực hiện tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của toàn bộ thời gian. Trường hợp trong quá trình đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, người lao động có khoảng thời gian đóng BHXH liền kề với bình quân tiền lương làm căn cứ đóng của thời gian này cao hơn bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của những năm cuối, thì người lao động được chọn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH liền kề tương ứng với số năm quy định để tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

Theo đó, người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có

Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội

Thay vì quy định mức hưởng theo %, dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi quy định cụ thể số tiền mức trợ cấp BHXH. Theo đó, mức trợ cấp 1 lần khi sinh con, nhận nuôi con nuôi là 3,6 triệu đồng/con; trợ cấp dưỡng sức sau thai sản là 540.000 đồng/ngày; trợ cấp mai táng là 14,9 triệu đồng…

toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu. Cụ thể: người bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 1/1/1995 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/1995 đến ngày 3/12/2000 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2001 đến ngày 3/12/2006 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia trong khoảng từ ngày 1/1/2007 đến ngày 3/12/2015 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ ngày 1/1/2016 đến ngày 3/12/2019 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ ngày 1/1/2020 đến ngày 3/12/2024 thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu. Người bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1/1/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng BHXH.

Quy định trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng mức tiền cụ thể

Theo định hướng cải cách chính sách tiền lương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp thì sẽ không còn “mức lương cơ sở”.

Trong khi đó, Luật BHXH năm 2014 quy định nhiều khoản trợ cấp gắn với “mức lương cơ sở” như: mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; trợ cấp mai táng; trợ cấp tuất hàng tháng;...

Vì vậy, trong dự thảo Luật BHXH sửa đổi, Bộ LĐTBXH đề xuất sửa đổi các trợ cấp gắn với mức lương cơ sở theo hướng quy định bằng số tiền cụ thể (bằng với mức tuyệt đối của hiện hành), đồng thời quy định các mức này được điều chỉnh khi Chính phủ điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH. Theo lý giải của Bộ LĐTBXH, điều này để vừa không gây xáo trộn “về mức” so với quy định hiện hành; đồng thời vừa phù hợp với định hướng cải cách chính sách tiền lương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, thuận lợi trong quá trình thực hiện.

Theo ông Nguyễn Duy Cường - Vụ Phó Vụ BHXH (Bộ LĐTBXH): “Việc sửa các quy định gắn với tiền lương khu vực nhà nước bằng mức tiền cụ thể để phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương. Theo chủ trương, mức lương cơ sở sẽ loại bỏ, nên đề xuất mức tiền cụ thể sẽ phù hợp quá trình khi Luật BHXH được thông qua”.

Khoản trợ cấp BHXH theo dự thảo mới sẽ được Chính phủ điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp. Việc bỏ cách tính trợ cấp BHXH theo lương cơ sở được cho là để phù hợp với chính sách cải cách tiền lương, bãi bỏ lương cở sở trong tương lai...

Quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất

Tại dự thảo Luật BHXH sửa đổi, Bộ LĐTBXH cũng đề xuất quy định về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất.

Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 về cải cách BHXH quy định, sửa đổi quy định về căn cứ đóng BHXH của khu vực doanh nghiệp ít nhất bằng khoảng 70% tổng tiền lương và các khoản thu nhập khác có tính chất lương của người lao động để khắc phục tình trạng trốn đóng, đóng không đủ BHXH, ảnh hưởng đến khả năng cân đối Quỹ BHXH và quyền lợi của người lao động.

Theo thống kê của Bộ LĐTBXH, tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc năm 2022 của người lao động là 5,73 triệu đồng/tháng, chiếm khoảng 75% thu nhập bình quân của người lao động làm công, hưởng lương. Luật BHXH hiện hành chỉ có quy định về tiền lương/thu nhập làm căn cứ đóng BHXH cao nhất nhưng chưa có quy định về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất. Mặc dù hiện nay, quy định về căn cứ đóng BHXH bắt buộc tương đối đầy đủ tại các văn bản quy định chi tiết luật. Tuy nhiên, do Luật BHXH quy định chung, chưa đủ rõ nên còn gặp khó khăn trong quá trình xây dựng các văn bản quy định chi tiết và quá trình triển khai trong thực tiễn.

Vì vậy, tại dự thảo Luật BHXH sửa đổi lần này, Bộ LĐTBXH đề xuất sửa đổi bổ sung tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất bằng một nửa mức lương tối thiểu tháng vùng cao nhất do Chính phủ công bố (cao nhất bằng 8 lần mức lương tối thiểu tháng vùng cao nhất do Chính phủ công bố). Đây là cơ sở quy định căn cứ đóng BHXH đối với những đối tượng không hưởng tiền lương (chủ hộ kinh doanh; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương;..), đặc biệt cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm tham gia đối với đối tượng người lao động làm việc không trọn thời gian.

Về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với khu vực ngoài nhà nước cơ bản kế thừa quy định hiện hành, quy định cụ thể hơn theo hướng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương tháng, bao gồm mức lương, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác, được trả thường xuyên và ổn định trong mỗi kỳ trả lương./.

Mai Lâm

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

(TBTCO) - FTSE Russell vừa công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) khu vực châu Á – Thái Bình Dương (không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc). Theo đó, cổ phiếu SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) là 1 trong 27 cổ phiếu Việt Nam mới được đưa vào FTSE Global All Cap Index. Thay đổi dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Điều này có thể giúp SSB được nhiều quỹ và nhà đầu tư quốc tế theo dõi hơn, kéo theo cơ hội gia tăng thanh khoản, thu hút dòng tiền và hỗ trợ giá cổ phiếu.
Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Theo VDSC, số dư phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành đã tăng hơn gấp đôi sau 6 quý, lên khoảng 158.000 tỷ đồng vào quý II/2026. Nghiệp vụ này không đi qua bộ lọc giám sát về room tín dụng, phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng, song quy mô tăng nhanh, đặt ra yêu cầu theo dõi rủi ro chất lượng tài sản tiềm ẩn.
Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

(TBTCO) - Bảo hiểm nhân thọ không phải khoản tiết kiệm có lãi suất cố định, cũng không phải kênh đầu tư hứa hẹn sinh lời cao. Giá trị cốt lõi của sản phẩm là bảo vệ tài chính trước những rủi ro khó lường. Để khách hàng thực sự “hiểu đúng để yên tâm”, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai khách hàng với yêu cầu đọc kỹ hợp đồng; doanh nghiệp và người tư vấn phải cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, minh bạch ngay từ thời điểm tham gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
NL 99.99 13,900 ▼200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼200K
Trang sức 99.9 14,180 ▼150K 14,780 ▼150K
Trang sức 99.99 14,190 ▼150K 14,790 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 ▼15K 14,872 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 ▼15K 14,873 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 ▼15K 1,482 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 ▼15K 1,483 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 ▼15K 1,472 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 ▼1485K 145,743 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▼1125K 110,561 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 ▼1020K 100,256 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 ▼915K 89,951 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 ▼875K 85,976 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 ▼625K 61,539 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cập nhật: 29/08/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,861 25,891 26,290
USD20 25,841 25,891 26,840
USD1 24,330 25,891 26,890
AUD 18,443 18,543 19,656
EUR 29,690 29,790 31,447
CAD 18,407 18,507 19,811
SGD 20,211 20,361 21,617
JPY 160.31 161.81 167.36
GBP 34,791 34,941 36,315
XAU 14,668,000 0 14,972,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/08/2026 20:00
Ngân hàng