Không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chủ hộ kinh doanh có thể bị phạt tới 75 triệu đồng

Hà My
(TBTCO) - Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai vi phạm quy định về bảo hiểm xã hội có nguy cơ chịu chế tài phạt vi phạm lên đến 75 triệu đồng (tuỳ theo mức độ vi phạm) và phải chấp hành các biện pháp để khắc phục hậu quả.
aa

Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, từ ngày 1/7/2025, chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (các chủ hộ còn lại, áp dụng từ ngày 1/7/2029).

Đã có hơn 12.300 chủ hộ kinh doanh đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh là chính sách mới lần đầu được triển khai.

Không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chủ hộ kinh doanh có thể bị phạt tới 75 triệu đồng
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tới tiểu thương tại Hà Tĩnh. Ảnh: BHXHVN

Do đó, để các chủ hộ kinh doanh nắm rõ quy định, đồng thuận và chủ động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, ngay từ giai đoạn chuẩn bị đến khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 chính thức có hiệu lực, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ.

Cụ thể, đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi để chủ hộ hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội và các chế tài liên quan; ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn bảo hiểm xã hội các tỉnh chuẩn bị dữ liệu, thống kê thông tin của các chủ hộ kinh doanh thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn; tổ chức hội nghị, gửi thông báo, hoặc cử viên chức trực tiếp đến hộ kinh doanh để đôn đốc, hướng dẫn lập hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội.

Đồng thời, cơ quan bảo hiểm xã hội cũng tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan trong việc rà soát, vận động, đưa chủ hộ kinh doanh tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.

Với sự nỗ lực, chủ động của toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến nay, cả nước đã có hơn 12.300 người là chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bình quân chung toàn quốc của chủ hộ khoảng 3,5 triệu đồng/tháng.

Một số địa phương có số chủ hộ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc lớn như: TP. Hồ Chí Minh (trên 1.960 người), Hà Nội (trên 1.160 người); Vĩnh Long (trên 780 người), Hải Phòng (trên 720 người), Đồng Nai (trên 750 người); Thái Nguyên, Lâm Đồng (gần 600 người)…

Phạt tới 75 triệu đồng nếu vi phạm

Hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội là hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Bảo hiểm xã hội. Do đó, cá nhân người sử dụng lao động vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 39 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ, mức phạt đối với người sử dụng lao động (trong đó có hộ kinh doanh) vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được chia thành 3 nhóm hành vi cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng, đối với các hành vi: chậm đóng; đóng không đúng mức quy định; đóng không đủ số người thuộc diện tham gia hoặc chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động.

Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhưng không quá 75 triệu đồng, đối với trường hợp không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện bắt buộc, song chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt tiền từ 50 triệu đến 75 triệu đồng đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc sửa chữa, làm sai lệch văn bản, tài liệu trong hồ sơ để đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn quy định vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nhiệp, nhưng các trường hợp này chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cũng theo Điều 39 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, ngoài hình thức phạt tiền, chủ hộ kinh doanh vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.

Cụ thể, buộc người vi phạm phải đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp phải đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Đồng thời, nộp khoản tiền lãi bằng 2 lần mức lãi suất đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền và thời gian chậm đóng, không đóng hoặc trốn đóng.

Trường hợp người vi phạm không thực hiện nghĩa vụ, ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước sẽ trích tiền từ tài khoản của chủ hộ kinh doanh để chuyển nộp theo quy định nhằm bảo đảm việc thu hồi đầy đủ các khoản phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Biện pháp này nhằm gia tăng quyền lợi chính đáng của người lao động, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Mức đóng bảo hiểm xã hội với chủ hộ kinh doanh

Theo quy định, chủ hộ kinh doanh đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc với mức 29,5% trên mức tiền lương tháng do chủ hộ chọn làm căn cứ đóng, nhưng không thấp hơn mức tham chiếu (hiện bằng mức lương cơ sở) và không cao hơn 20 lần mức tham chiếu. Tỷ lệ 29,5% gồm: 22% đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất; 3% vào quỹ ốm đau, thai sản; 4,5% vào Quỹ Bảo hiểm y tế.

Như vậy, với mức tham chiếu hiện hành, mức đóng của chủ hộ kinh doanh hiện nay như sau: Mức đóng thấp nhất: 29,5% × 2.340.000 = 690.300 đồng/tháng; Mức đóng cao nhất (20 lần mức tham chiếu): 29,5% × 20 × 2.340.000 = 13.806.000 đồng/tháng.

Hà My

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80