Bảo hiểm phi nhân thọ: Tăng trưởng doanh thu, bứt tốc số hóa, khẳng định vị thế

Hồng Chi
(TBTCO) - Với mức tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm hơn 11% trong những tháng đầu năm 2025, cùng sự chuyển đổi mạnh mẽ về công nghệ, quản trị và trải nghiệm khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ liên tục được vinh danh tại nhiều giải thưởng danh giá, đồng thời giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng sớm hoàn thành mục tiêu kế hoạch cả năm.
aa

Tăng trưởng ấn tượng

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận năm 2025 chỉ sau 9 tháng, với tổng doanh thu đạt 21.538 tỷ đồng, hoàn thành 108,4% kế hoạch năm, tăng trưởng 38,7% so với cùng kỳ năm 2024; lợi nhuận trước thuế đạt 1.148 tỷ đồng, hoàn thành 145% kế hoạch năm. Doanh thu bảo hiểm gốc tăng trưởng 10,4%, trong đó doanh thu từ kênh thương mại điện tử tiếp tục là mũi nhọn, tăng trưởng 87% so với cùng kỳ.

Việc đầu tư vào chuyển đổi số, tối ưu nền tảng bán hàng trực tuyến và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu hiện đại đã giúp Bảo hiểm PVI nhanh chóng nắm bắt xu hướng tiêu dùng mới, đồng thời nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Bảo hiểm phi nhân thọ: Tăng trưởng doanh thu, bứt tốc số hóa, khẳng định vị thế
Bảo hiểm PVI xuất sắc hoàn thành sớm kế hoạch kinh doanh năm 2025. Ảnh: Phan Hà

Báo cáo từ Bảo hiểm Bảo Việt cho thấy, kết thúc 9 tháng năm 2025, tổng doanh thu của công ty đạt 9.561 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ. Mảng tái bảo hiểm tăng đột phá 112,7%, khẳng định năng lực kỹ thuật và uy tín của doanh nghiệp, khẳng định vị thế tiên phong trên thị trường tái bảo hiểm nội địa. Các nghiệp vụ trụ cột như bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm xe cơ giới đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ, lần lượt đạt 8,5% và 11,4% nhờ được hỗ trợ bởi hệ sinh thái dịch vụ số hóa toàn diện, từ cấp đơn, giám định đến bồi thường trực tuyến nhanh chóng.

Không chỉ duy trì mức tăng trưởng ổn định, Bảo hiểm Bảo Việt còn chủ động triển khai các giải pháp đổi mới sản phẩm, công nghệ và trải nghiệm khách hàng. Điều này giúp doanh nghiệp tiếp tục củng cố vị thế dẫn dắt thị trường, đồng thời mở ra dư địa tăng trưởng bền vững trong các phân khúc khách hàng tiềm năng.

Năm 2025, Bảo hiểm VietinBank (VBI) tăng vốn điều lệ thành công lên hơn 1.000 tỷ đồng, trở thành doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có vốn điều lệ lớn thứ 9 trong nhóm các doanh nghiệp có thị phần dẫn đầu ngành.

Với Bảo hiểm VietinBank (VBI), tổng doanh thu đến hết tháng 9/2025 đạt hơn 3.600 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 17% so với cùng kỳ năm 2024, duy trì vị trí top 7 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất thị trường. Trong đó, doanh thu phân khúc khách hàng doanh nghiệp và FDI ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ nhờ chiến lược hợp tác thành công với nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xây dựng, hạ tầng cũng như các tập đoàn đầu tư của nước ngoài…

Doanh nghiệp tiêu biểu dẫn đầu và ghi dấu ấn

Với những nỗ lực trong đổi mới công nghệ, quản trị và trải nghiệm khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm đã củng cố uy tín và thương hiệu, ghi dấu ấn trên thị trường trong nước và quốc tế.

Điển hình, VBI được vinh danh giải thưởng "Sáng kiến bảo hiểm số của năm" tại Insurance Asia Awards 2025. Theo Ban Tổ chức Insurance Asia Awards 2025, trong bối cảnh thị trường bảo hiểm đối mặt với nhiều thách thức, các rủi ro mới nổi lên và kỳ vọng của khách hàng liên tục thay đổi, VBI đã phát triển và ứng dụng nhiều giải pháp chuyển đổi số hiệu quả để duy trì sức cạnh tranh, mang lại giá trị tối ưu cho khách hàng.

Đặc biệt, doanh nghiệp này còn xây dựng hệ sinh thái bảo hiểm số đa kênh, mở rộng phân phối sản phẩm qua ứng dụng MyVBI, website, đối tác API và mô hình bảo hiểm nhúng; đồng thời ứng dụng mạnh mẽ công nghệ AI, tự động hóa… để phát triển nhiều tính năng tiện ích cho khách hàng, như hệ thống nhắc tái tục tự động, gợi ý dịch vụ bệnh viện hoặc garage gần nhất dựa trên vị trí địa lý, đề xuất gói sản phẩm cá nhân hóa dựa trên nghiên cứu hành vi của khách hàng.

Đại diện VBI nhấn mạnh: "Chúng tôi đánh giá, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng, mà là chiến lược phát triển lâu dài. Chuyển đổi số không chỉ là thay đổi bộ công cụ, mà là sự thay đổi toàn diện trong tư duy nhằm mục tiêu cốt lõi là phục vụ khách hàng hiệu quả. Công ty đang tiếp tục phát huy thế mạnh về sản phẩm, dịch vụ, đa dạng hóa kênh phân phối, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để hoàn thành mục tiêu đề ra trong năm 2025".

Một tên tuổi khác là Bảo hiểm PVI cũng liên tiếp được ghi danh tại nhiều giải thưởng uy tín trong khu vực. Doanh nghiệp này được trao giải top 3 "Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ của năm" tại Giải thưởng Bảo hiểm châu Á (AIIA) lần thứ 29, nhờ năng lực quản trị và chuyển đổi số toàn diện.

Đại diện Bảo hiểm PVI - ông Dương Thanh Francois - Chủ tịch HĐTV chia sẻ: "Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực bứt phá của chúng tôi trong hành trình giữ vững vị trí dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, đồng thời khẳng định dấu ấn thương hiệu Việt trên bản đồ bảo hiểm khu vực châu Á, thể hiện năng lực - uy tín - khát vọng vươn tầm quốc tế".

Bảo hiểm Bảo Việt cũng khẳng định năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế với xếp hạng năng lực tài chính (FSR) ở mức B++ (Tốt), xếp hạng năng lực tín dụng tổ chức phát hành dài hạn (ICR) ở mức bbb+ (Tốt) và xếp hạng theo thang điểm quốc gia Việt Nam (NSR) ở mức cao nhất aaa.VN (Xuất sắc). Triển vọng của các xếp hạng này được đánh giá là "Ổn định".

Theo AM Best, Bảo hiểm Bảo Việt sở hữu sức mạnh bảng cân đối kế toán ở mức rất vững mạnh, cùng với hiệu quả hoạt động ổn định, cơ cấu hạng mục kinh doanh cân bằng và năng lực quản trị rủi ro doanh nghiệp phù hợp. Ngoài ra, Bảo hiểm Bảo Việt được hỗ trợ về hệ thống khung quản trị, về tài chính và mạng lưới từ công ty mẹ và các thành viên trong Bảo Việt, tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam.

“Xếp hạng từ AM Best là minh chứng rõ ràng rằng, một doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn tài chính quốc tế khắt khe nhất, nếu có chiến lược đúng và cam kết dài hạn với việc xây dựng năng lực cốt lõi từ bên trong” - đại diện Bảo hiểm Bảo Việt nhấn mạnh.

Hồng Chi

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80