SHB và IFC ký kết hợp tác khoản vay cao cấp

(TBTCO) - Ngày 21/3/2023, tại Hà Nội, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) đã tổ chức lễ ký kết hợp đồng tín dụng giữa hai bên, với gói vay trị giá 120 triệu USD.
aa

Cụ thể, SHB và IFC ký kết khoản vay đầu tiên trong tổng gói vay 120 triệu USD từ nguồn vốn trực tiếp của IFC có kỳ hạn 3 năm. Ngoài ra, IFC - thành viên của nhóm Ngân hàng Thế giới, sẽ tiếp tục xúc tiến một gói vay bổ sung huy động từ các bên cho vay quốc tế.

Khoản vay nhằm hỗ trợ SHB phát triển danh mục cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), trong đó có các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và những doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. SHB cam kết sẽ dành riêng tối thiểu 37,5% giá trị khoản vay để cho vay các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và ngân hàng sẽ nhận được khoản tài trợ 226.000 USD từ Quỹ Sáng kiến tài chính dành cho nữ doanh nhân (We-Fi) và Quỹ Tạo cơ hội cho nữ doanh nhân (WEOF) – các sáng kiến tài trợ toàn cầu với mục tiêu mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho nữ doanh nhân.

Đồng thời, 16,7% giá trị khoản vay sẽ được SHB dành riêng tài trợ cho các doanh nghiệp SME tham gia vào các chuỗi cung ứng. Bên cạnh sự hỗ trợ về tài chính, IFC đang tư vấn cho SHB đẩy mạnh tài trợ chuỗi cung ứng với những giải pháp và sản phẩm chuyên biệt, từ đó sẽ tạo đòn bẩy và sức bật, đem đến các giải pháp tài chính giúp tạo sự liền mạch, tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả chuỗi cung ứng.

SHB và IFC ký kết hợp tác khoản vay cao cấp
Bà Ngô Thu Hà – Tổng Giám đốc SHB và bà Natalia Bogomolova - Quản lý kinh doanh Khối Định chế tài chính khu vực Châu Á Thái Bình Dương của IFC ký kết hợp tác

Tại lễ ký kết, bà Ngô Thu Hà - Tổng giám đốc SHB, chia sẻ: “Việc IFC và nhiều tổ chức tài chính quốc tế đồng hành cùng SHB trong thời gian qua tiếp tục khẳng định uy tín và năng lực của SHB trên thị trường tài chính quốc tế; đồng thời khẳng định chiến lược đúng đắn của ngân hàng trong việc phát triển an toàn, mạnh mẽ, xây dựng nền tảng, bộ đệm vững chắc, giúp SHB tăng trưởng ổn định và bền vững, đáp ứng đầy đủ, toàn diện các tiêu chuẩn an toàn, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Thời gian qua, SHB đã triển khai nhiều chương trình đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp SME, đặc biệt là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ - nhóm doanh nghiệp đang ngày càng đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế. Chúng tôi tin rằng, nếu có những chính sách và giải pháp hỗ trợ kịp thời, nhất là về dòng vốn ưu đãi như từ IFC, nhóm doanh nghiệp này sẽ phát huy được nhiều hơn nữa thế mạnh, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng tới phát triển bền vững”.

SHB và IFC ký kết hợp tác khoản vay cao cấp
Việc IFC và nhiều tổ chức tài chính quốc tế đồng hành cùng SHB trong thời gian qua tiếp tục khẳng định uy tín và năng lực của SHB trên thị trường tài chính quốc tế.

IFC cũng dự kiến sẽ cung cấp hạn mức bảo lãnh tài trợ thương mại 75 triệu USD cho SHB trong khuôn khổ Chương trình tài trợ thương mại toàn cầu (GTFP). Việc tham gia GTFP sẽ giúp SHB mở rộng mạng lưới ngân hàng đối tác toàn cầu, đồng thời góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng về thương mại, hỗ trợ các hoạt động xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong nước.

Cũng tại sự kiện, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia IFC tại Việt Nam, Campuchia và Lào, cho biết: “Mối quan hệ hợp tác mới giữa hai bên sẽ giúp SHB củng cố hoạt động kinh doanh theo chiến lược phát triển; giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển kinh doanh nhờ vào nguồn vốn vay cũng như liên kết với các chuỗi cung ứng toàn cầu; từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm ở Việt Nam”.

“Điều quan trọng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ phải được hỗ trợ và có thể tiếp cận nguồn vốn cần thiết để phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình” - ông Thomas Jacobs nhấn mạnh.

Không chỉ vậy, trong quá trình hợp tác, IFC cùng với các đối tác trong chương trình sẽ đồng hành hỗ trợ và tư vấn cho SHB trong việc xây dựng chiến lược phát triển, kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế.

Với những giá trị cộng hưởng kể trên, SHB sẽ có thêm nguồn lực và lợi thế để nắm bắt cơ hội, kết nối cung - cầu vốn hiệu quả hơn nữa, cũng như cho các kế hoạch dài hạn để tiếp tục tăng trưởng bền vững và hiệu quả./.

Tài Tâm

Đọc thêm

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 10/4, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp với Sở Công thương Cần Thơ tổ chức chương trình “LPBank Connect - Kết nối địa phương, đồng hành cùng doanh nghiệp”, hướng tới tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 12/04/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/04/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80