Sửa Thông tư 01/2020/TT/NHNN: Ngân hàng và doanh nghiệp đều “dễ thở”

Chí Tín
(TBTCVN) - Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có kế hoạch sửa đổi Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, với một số mốc thời gian để xem xét giãn nợ được kéo dài, phần nào cũng giúp cả ngân hàng và doanh nghiệp đều “dễ thở” hơn. Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn băn khoăn về tính sát thực và tính dễ hiểu của văn bản.
aa

nh

Thông tư 01 được sửa đổi giúp ngân hàng chủ động trong kế hoạch hỗ trợ khách hàng.

Cập nhật quy định theo tình hình mới

Thông tư 01/2020/TT-NHNN (Thông tư 01) do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành ngày 13/3/2020 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. (Thông tư 01 đã được sửa đổi, bổ sung 1 lần tại Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 2/4/2021).

Theo NHNN, việc sửa đổi Thông tư 01 được thực hiện trên cơ sở các nghị quyết của Chính phủ trong tháng 7/2021 với quan điểm tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Theo đó, chính sách hướng tới việc hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh, đồng thời, giúp các ngân hàng chủ động trong kế hoạch hỗ trợ khách hàng.

Trong khi đó, với góc nhìn của một chuyên gia độc lập, ông Châu Đình Linh, Giảng viên Học viên Ngân hàng
TP. Hồ Chí Minh cũng đồng tình với quan điểm việc cần thiết phải sửa Thông tư 01 và Thông tư 03, vì thời điểm ban hành 2 thông tư trên, tình hình dịch bệnh ít phức tạp hơn.

Thực tế cho thấy, đợt dịch bệnh lần thứ 4 bùng phát từ cuối tháng 4/2021 khiến nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, gặp khó trong trả nợ. Bối cảnh dịch bệnh và tình hình kinh tế chung giai đoạn hiện cũng đã khác xa so với thời điểm NHNN ban hành Thông tư 01 và 03. Hiện nay, nhiều khoản nợ cần được cơ cấu nhưng lại không đáp ứng được điều kiện quy định tại Thông tư 01 và 03.

Một số ngân hàng cho rằng, việc không được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ giải ngân trong các đợt sau khiến ngân hàng không thể hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn tài chính do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Các khoản nợ như trên theo đó có thể sẽ vẫn bị chuyển nợ xấu ảnh hưởng đến cả doanh nghiệp và cả tình hình tài chính của các tổ chức tín dụng.

Trước thực tế hiện nay, một số mốc thời gian về điều kiện đối các khoản nợ được tái cơ cấu cũng đang được xem xét điều chỉnh trong thông tư mới sắp ban hành.

Tại Thông tư 01, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ của khoản nợ với một số điều kiện, trong đó có điều kiện về thời gian (phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính). Mốc thời gian mới theo dự thảo thông tư đang được soạn thảo dự kiến được NHNN đặt ra là 1/8/2021.

Ngoài ra, một trong những điều kiện nữa về thời gian là theo quy định tại Thông tư 01, nghĩa vụ trả nợ trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/12/2021. Còn theo dự thảo hiện tại của NHNN, thời gian có thể được điều chỉnh sang mốc mới là 23/1/2020 đến ngày 30/6/2022, tức mốc thời gian về nghĩa vụ trả nợ được kéo dài thêm nửa năm so với quy định cũ.

Các quy định cần bám sát thực tế

Những điều chỉnh theo hướng kéo giãn các mốc thời gian được giới chuyên gia đánh giá là phù hợp với nguyện vọng của các ngân hàng và khách hàng vay. Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng vẫn tiếp tục tỏ ra quan tâm đến yếu tố sát thực, để thông tư khi ra đời có sự phù hợp và bám sát nhất với thực tế thời điểm đó.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Cấn Văn Lực, Kinh tế gia trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, điều kiện về thời gian phát sinh khoản nợ không nên chốt cứng là trước 1/8/2021 mà nên để linh hoạt hơn, có thể tính bắt đầu từ thời điểm chính thức ban hành thông tư để các quy định được sát nhất với thực tế khi thông tư chính thức ra đời. Ông Lực tỏ ra quan tâm nhiều về vấn đề thời gian cơ cấu thời hạn trả nợ không nên ấn định là 12 tháng (Thông tư 01 và dự thảo thông tư mới vẫn giữ quy định này) mà có thể để một khung thời gian dài hơn, điều đó có thể giúp cho việc thực thi có thể linh hoạt hơn theo thực tế diễn biến của dịch bệnh.

Ngoài ra, một số chuyên gia cũng đặt mối quan tâm về việc thông tư mới ban hành làm sao dễ áp dụng nhất. Bởi lẽ, thực trạng của các ngân hàng phải theo dõi rất nhiều khoản nợ, nên cách tính toán phức tạp rất dễ dẫn đến nhầm lẫn, sai sót khi thực hiện. Trong một cuộc thảo luận cách đây ít lâu giữa Hiệp hội Ngân hàng với một số ngân hàng hội viên, một số ý kiến cũng đề nghị NHNN nên nghiên cứu áp dụng công thức tính đơn giản, dễ vận dụng hoặc có hướng dẫn chi tiết để hạn chế sai sót cho các tổ chức tín dụng trong công tác trích lập dự phòng, nhằm hỗ trợ tối đa cho khách hàng.

Ông Cấn Văn Lực cũng cho biết, thông tư mới ban hành cũng nên là một văn bản có tính tổng quát sao cho người sử dụng chỉ cần sử dụng 1 văn bản để áp dụng, không nên để các quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau khiến cho người sử dụng phải tra cứu nhiều văn bản sẽ rất rắc rối.

Kéo dài nghĩa vụ trả nợ thêm nửa năm là phù hợp


Ngân hàng Nhà nước cho biết, căn cứ vào kế hoạch tiêm chủng và tình hình kiểm soát dịch bệnh, dự thảo thông tư lần 1 lấy ý kiến các đơn vị trong Ngân hàng Nhà nước, cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước đã đánh giá và đề xuất việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí và giữ nguyên nhóm nợ được áp dụng đối với các khoản nợ có nghĩa vụ trả nợ phát sinh trong khoảng thời gian từ 23/1/2020 đến ngày 30/6/2022 là phù hợp.
Quy định này đưa ra nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch, theo đó, khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 sẽ có thêm khoảng thời gian 6 tháng để phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

(TBTCO) - Ngày 9/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tổ chức Lễ ký kết hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ với sự tham gia của nhiều tổ chức, quỹ đầu tư uy tín trong nước và quốc tế, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược tăng vốn và mở rộng quy mô hoạt động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 13/04/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/04/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80