Tầm nhìn "xanh" từ bộ tiêu chí môi trường của Chính phủ và hành động tiên phong của Agribank

Ngân Vũ
(TBTCO) - Việc Agribank ban hành danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội có ý nghĩa sâu rộng, không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng, mà còn đối với mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
aa

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Với vai trò là một trong những định chế tài chính hàng đầu, đặc biệt là ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Agribank ngay lập tức thể hiện vai trò tiên phong, nghiêm túc trong thực hiện Quyết định 21 của Chính phủ bằng hành động cụ thể. Đó là, kịp thời ban hành Danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ/hạn chế cấp tín dụng về môi trường và xã hội - khẳng định cam kết của Agribank trong việc kiến tạo tương lai xanh cho đất nước và củng cố vị thế trụ cột của ngân hàng trong phát triển bền vững.

Chủ động loại trừ rủi ro, thúc đẩy dòng vốn xanh

Quyết định 21/2025/QĐ-TTg là một văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho việc định hình dòng vốn đầu tư theo hướng thân thiện với môi trường tại Việt Nam. Quyết định này quy định rõ các tiêu chí môi trường và quy trình xác nhận dự án đầu tư đáp ứng tiêu chí môi trường để được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng xanh và trái phiếu xanh.

Tầm nhìn
Cán bộ Agribank tư vấn cấp tín dụng cho một nhà máy điện gió.

Bộ tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh của Thủ tướng Chính phủ ưu tiên các lĩnh vực đầu tư xanh như năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, nông nghiệp bền vững, giao thông xanh và công trình xanh. Điều này nhằm khuyến khích doanh nghiệp và nhà đầu tư chuyển dịch sang các mô hình sản xuất, kinh doanh có lợi cho môi trường.

Đồng thời, Quyết định cũng tạo động lực mạnh mẽ cho các tổ chức tài chính và nhà đầu tư hướng dòng vốn vào các dự án thân thiện môi trường, thúc đẩy sự phát triển của tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Quyết định này còn khuyến khích các tổ chức tín dụng chủ động áp dụng để xác định và thực hiện cấp tín dụng xanh theo chính sách riêng của mình, góp phần lan tỏa tầm nhìn xanh trong toàn hệ thống ngân hàng.

Kịp thời triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Agribank đã nhanh chóng ban hành Quyết định số 2525/QĐ-NHNo-TD về "Danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội". Đây là một động thái chiến lược cho thấy sự chủ động và quyết tâm của Agribank trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Quyết định của Agribank phân loại rõ ràng các ngành, nghề loại trừ và hạn chế cấp tín dụng dựa trên mức độ tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.

Cụ thể, các ngành, nghề loại trừ cấp tín dụng bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm bất hợp pháp, các hoạt động phi đạo đức, sản xuất vũ khí, phá hủy khu bảo tồn thiên nhiên và buôn bán chất thải nguy hại xuyên biên giới. Việc loại trừ này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Agribank trong việc không tiếp tay cho các hoạt động gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường và xã hội.

Là ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Agribank hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn. Việc định hướng dòng vốn vào các hoạt động có trách nhiệm môi trường và xã hội giúp Agribank thực hiện tốt hơn sứ mệnh của mình, hỗ trợ nông dân sản xuất theo hướng sạch, an toàn và bền vững.

Đối với các ngành, nghề kinh doanh hạn chế cấp tín dụng, Agribank sẽ xem xét cấp tín dụng một cách thận trọng, tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về môi trường và xã hội. Các hoạt động trong danh mục này bao gồm phá dỡ tàu biển, sản xuất, kinh doanh vật liệu phóng xạ, kinh doanh casino và sản xuất, kinh doanh amiăng dạng thô không kết dính. Việc hạn chế này nhằm kiểm soát rủi ro và khuyến khích các doanh nghiệp trong những lĩnh vực này tuân thủ các tiêu chuẩn bền vững cao hơn.

Có thể thấy, trong khi Quyết định 21 khuyến khích và định hướng dòng vốn vào các dự án xanh, thì danh mục loại trừ/hạn chế cấp tín dụng về môi trường và xã hội của Agribank đã bổ trợ bằng cách xác định rõ những gì Agribank sẽ không cấp vốn. Điều này tạo ra một cơ chế sàng lọc hiệu quả, gián tiếp thúc đẩy dòng vốn chảy mạnh mẽ hơn vào các dự án xanh, phù hợp với định hướng chung của Chính phủ.

Từ tầm nhìn chính sách đến hành động cụ thể

Ngoài việc ban hành danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội, Agribank còn triển khai nhiều hoạt động cụ thể khác để thúc đẩy tài chính xanh. Agribank đã tích hợp các tiêu chí vào chiến lược kinh doanh và quy trình quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động tín dụng, đảm bảo các quyết định tài chính đều có trách nhiệm.

Đáng chú ý, Agribank đã triển khai các gói tín dụng xanh quy mô lớn, bao gồm: Gói 30.000 tỷ đồng tài trợ dự án đầu tư thuộc các ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh; tiên phong dành nguốn vốn 50.000 tỷ đồng để triển khai chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch; và đã dành riêng 10.000 tỷ đồng triển khai chương trình cho vay “Tín dụng xanh”, ưu đãi dành cho khách hàng cá nhân…

Agribank còn tiên phong trong các chương trình cụ thể, thúc đẩy trực tiếp các dự án thân thiện với môi trường như: Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Dự án tập trung hỗ trợ các hợp tác xã và nông dân áp dụng các quy trình canh tác bền vững, giảm lượng phát thải khí nhà kính từ hoạt động trồng lúa, đồng thời nâng cao giá trị và chất lượng nông sản; tham gia tài trợ cho các dự án điện mặt trời tại TP. Huế, Khánh Hòa, nhà máy điện gió quy mô nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng... góp phần đa dạng hóa nguồn năng lượng quốc gia và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch.

Bằng nguồn lực của mình, Agribank tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào các dự án: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với bảo vệ môi trường qua việc cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các hộ gia đình và doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải, rác thải, xây dựng các mô hình chăn nuôi, trồng trọt theo hướng hữu cơ, góp phần cải thiện môi trường sống ở khu vực nông thôn; Chương trình cho vay ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nhà kính thông minh, các giải pháp nông nghiệp tuần hoàn, giúp tối ưu hóa tài nguyên và giảm thiểu tác động môi trường…

Việc Agribank ban hành danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội có ý nghĩa sâu rộng, không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng, mà còn đối với mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Cùng với đó, Agribank cũng chủ động đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. Bằng cách định hình lại các dòng vốn đầu tư, ưu tiên các hoạt động sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường và có trách nhiệm xã hội. Qua đó, Agribank cũng đã trực tiếp góp phần vào việc đạt được các mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh theo Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

Hơn nữa, việc định hướng vốn vào các dự án bền vững mang lại tác động tích cực đến kinh tế và xã hội về lâu dài. Các dự án xanh không chỉ bảo vệ môi trường, mà còn tạo ra việc làm mới, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Với cam kết mạnh mẽ và những hành động cụ thể đã được triển khai, định hướng tương lai của Agribank là tiếp tục mở rộng quy mô tín dụng xanh, hoàn thiện khung quản lý rủi ro môi trường và xã hội. Agribank sẽ không ngừng nâng cao năng lực nội bộ, hợp tác chặt chẽ với các đối tác để đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tài chính xanh.

Ngân Vũ

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80