Thống đốc Lê Minh Hưng: Xử lý nghiêm trách nhiệm tổ chức, cá nhân gây ra nợ xấu

H.Y

H.Y

Sáng 7/6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã giải trình một loạt các vấn đề về thực trạng, nguyên nhân, trách nhiệm xử lý nợ xấu, liên quan dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu và Luật sửa đổi Luật các Tổ chức tín dụng đang được thảo luận tại Quốc hội.
aa

LMH

Thống đốc Lê Minh Hưng giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận hội trường sáng 7/6.

Nợ xấu ước tính khoảng 10,08% tổng dư nợ

Trả lời nhiều yêu cầu của đại biểu (ĐB) Quốc hội đề nghị làm rõ thực trạng, nguyên nhân và việc xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến xử lý nợ xấu, Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết nợ xấu vào thời điểm tháng 9/2012 là 17,21% tổng dư nợ. Tuy nhiên, đây là ước tính một cách thận trọng, nếu tính thực chất, nợ xấu có thể cao hơn nhiều.

Tính đến 31/12/2016, nợ xấu nội bảng tại các ngân hàng là trên 150.000 tỷ đồng, chiếm 2,52% tổng dư nợ. Nợ xấu do VAMC nắm giữ là trên 195.000 tỷ đồng, chiếm 3,29% tổng dư nợ. Như vậy, tổng số nợ là trên 345.000 tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có số nợ có nguy cơ cao trở thành nợ xấu, đó chính là số nợ đã được cơ cấu lại cho ngân hàng và doanh nghiệp (DN) theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ trong giai đoạn khó khăn 2012 – 2013 trước đây. Thực chất, khi đến hạn số nợ này cũng là nợ xấu. Do đó, tổng số nợ xấu trong nền kinh tế được Thống đốc NHNN ước tính vào khoảng 10,08% tổng dư nợ của nền kinh tế. Trong số nợ xấu 5,8%, nợ của DN ngoài quốc doanh chiếm 63 – 64%, nợ của DNNN 6,3%, nợ của hộ kinh doanh, cá nhân chiếm 21%, nợ của DN FDI là 1,8% tổng dư nợ.

Về nguyên nhân nợ xấu, Thống đốc cho rằng nguyên nhân khách quan là do sự bất ổn của kinh tế thế giới, khó khăn của kinh tế trong nước thời gian qua. Trong giai đoạn 2011 – 2015, mỗi năm đã có trên 63.000 DN phá sản, giải thể.

Về phía chủ quan, Thống đốc thẳng thắn nhìn nhận là do từ phía chính các tổ chức tín dụng (TCTD), khi quy trình tín dụng của một số TCTD chưa đầy đủ, chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho cán bộ, khách hàng lợi dụng. Năng lực quản trị rủi ro một số TCTD hạn chế, kiểm soát chưa tốt, tính tuân thủ quy chế chưa cao, chuẩn mực đạo đức chưa được quan tâm dẫn đến rủi ro trong cho vay. Trong khi đó, công tác thanh tra, giám sát của NHNN tuy có cố gắng nhưng có nhiều hạn chế , chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, năng lực thanh tra của cán bộ còn bất cập…

“Một bộ phận cán bộ ngân hàng thoái hoá biến chất, lợi dụng trách nhiệm quyền hạn để cố ý làm trái. Các hành vi này đã, đang và sẽ được xử lý nghiêm theo pháp luật”, Thống đốc nêu rõ.

Xử lý hàng loạt cán bộ ngân hàng có vi phạm gây ra nợ xấu

Trước băn khoăn của đại biểu về việc xử lý trách nhiệm gây ra nợ xấu, Thống đốc Lê Minh Hưng khẳng định không có quy định nào trong dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu có thể tạo điều kiện cho các TCTD, cá nhân liên quan trục lợi. Các cá nhân vi phạm đều đã và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Theo lãnh đạo NHNN, thời gian qua, nhiều vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng đã được xử lý, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra. Riêng trong giai đoạn từ năm 2011 – 2016, các cơ quan điều tra của Bộ Công an đã phát hiện, khởi tố 95 vụ án kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, khởi tố bị can gần 200 cán bộ ngân hàng. Một số vụ án lớn gần đây trong lĩnh vực ngân hàng đã khởi tố, điều tra, xét xử 128 cán bộ ngân hàng, trong đó nhiều đối tượng là chủ tịch, phó chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc…. Chỉ riêng tại Agribank, từ năm 2013 đã xử lý 352 cán bộ, đã khởi tố điều tra 65 vụ án, xử lý hình sự 122 cán bộ, trong đó có nguyên chủ tịch HĐQT, TGĐ, các lãnh đạo…

Trong đề án tái cơ cấu ngân hàng giai đoạn 2016 – 2020, NHNN đã đưa ra nhiều giải pháp để xử lý nợ xấu, đồng thời ngăn ngừa nợ xấu phát sinh, theo hướng tăng cường năng lực thanh tra, giám sát, yêu cầu các TCTD tăng cường năng lực điều hành.

Tiếp thu các ý kiến đóng góp của ĐB Quốc hội, Thống đốc NHNN cho biết sẽ bổ sung vào dự thảo Nghị quyết nguyên tắc không sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu, nguyên tắc xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp pháp luật gây ra nợ xấu, gây tổn thất cho ngân hàng. Dự thảo cũng sẽ bổ sung ý kiến về khái niệm nợ xấu, về thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội….

Bên cạnh đó, các ĐB còn những ý kiến chưa thống nhất về một số nội dung quan trọng để xử lý nợ xấu như phạm vi nợ xấu, thu giữ tài sản đảm bảo (TSĐB). Giải trình các nội dung này, Thống đốc NHNN cho biết nếu giới hạn áp dụng Nghị quyết chỉ trong số nợ xấu hiện tại sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu xử lý nợ xấu triệt để, toàn diện. Trong khi đó, nợ xấu là rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng. Trung bình mỗi năm qua, nợ xấu phát sinh 1,3 – 1,5%/năm, do đó cần có thời gian áp dụng đủ dài (theo như dự thảo Nghị quyết là bao gồm cả nợ xấu phát sinh trong thời hạn 5 năm có hiệu lực của Nghị quyết). “Việc chỉ xử lý nợ xấu trong phạm vi nhất định, tạo ra cơ chế không đồng bộ, vì một ngân hàng được xử lý khoản nợ này theo Nghị quyết nhưng khoản nợ kia lại theo quy định khác thì rất vướng mắc cho các TCTD”, Thống đốc Lê Minh Hưng nói.

Đối với ý kiến về quyền thu giữ tài sản đảm bảo (TSĐB) của TCTD, theo ông Lê Minh Hưng, đây là quyền đương nhiên và chính đáng của các TCTD theo thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa TCTD và khách hàng khi xác lập giao dịch cấp tín dụng. Các thoả thuận về quyền thu giữ của các bên liên quan là phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp tổ chức cá nhân đem tài sản của mình tự nguyện thế chấp cho nghĩa vụ trả nợ sẽ là phát sinh nghĩa vụ giao nhận TSĐB.

Cùng với việc tiếp thu, giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội về dự thảo Nghị quyết, Thống đốc NHNN cũng tiếp thu các ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật sửa đổi Luật các TCTD và cho rằng đây sẽ là những cơ sở quan trọng cho để Chính phủ có cơ sở, khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho các TCTD đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, xử lý TSĐB.



H.Y

H.Y

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

(TBTCO) - Họ từng có công việc ổn định, môi trường chuyên nghiệp và nền tảng kiến thức tài chính vững chắc trong ngành ngân hàng. Điều khiến họ chuyển hướng không chỉ là mong muốn thay đổi, mà là nhu cầu tìm một không gian rộng hơn để năng lực đã tích lũy có thể tạo ra tác động rõ hơn, gần hơn với khách hàng và mở ra không gian phát triển lớn hơn trong bảo hiểm nhân thọ.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,920 15,320
Kim TT/AVPL 14,920 15,320
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,920 15,320
Nguyên Liệu 99.99 14,500 14,700
Nguyên Liệu 99.9 14,450 14,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,800 15,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,750 15,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,680 15,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 150,200 153,200
Hà Nội - PNJ 150,200 153,200
Đà Nẵng - PNJ 150,200 153,200
Miền Tây - PNJ 150,200 153,200
Tây Nguyên - PNJ 150,200 153,200
Đông Nam Bộ - PNJ 150,200 153,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,920 15,320
Miếng SJC Nghệ An 14,920 15,320
Miếng SJC Thái Bình 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,920 15,320
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,510 15,210
Trang sức 99.99 14,520 15,220
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,492 15,322
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,492 15,323
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 149 153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 149 1,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 147 1,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,435 150
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 104,886 113,786
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,428 10,318
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 83,674 92,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 79,583 88,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 54,432 63,332
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Cập nhật: 06/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18265 18540 19117
CAD 18436 18713 19334
CHF 32772 33157 33800
CNY 0 3850 3943
EUR 30011 30284 31315
GBP 34667 35059 35997
HKD 0 3230 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15173 15759
SGD 19974 20257 20783
THB 722 785 839
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,127 30,151 31,466
JPY 160.42 160.71 169.73
GBP 34,794 34,888 35,952
AUD 18,437 18,504 19,129
CAD 18,619 18,679 19,290
CHF 33,041 33,144 33,990
SGD 20,105 20,168 20,881
CNY - 3,820 3,950
HKD 3,300 3,310 3,435
KRW 15.79 16.47 17.85
THB 770.16 779.67 831.51
NZD 15,132 15,273 15,661
SEK - 2,767 2,854
DKK - 4,031 4,157
NOK - 2,774 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,106.87 - 6,867.32
TWD 756.3 - 912.66
SAR - 6,906.56 7,246.23
KWD - 83,637 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26404
AUD 18439 18539 19461
CAD 18620 18720 19735
CHF 33009 33039 34617
CNY 3829.7 3854.7 3990.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30186 30216 31941
GBP 34937 34987 36745
HKD 0 3355 0
JPY 161.09 161.59 172.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15274 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20130 20260 20991
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14920000 14920000 15320000
SBJ 13000000 13000000 15320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,076 26,126 26,404
USD20 26,076 26,126 26,404
USD1 26,076 26,126 26,404
AUD 18,476 18,576 19,683
EUR 30,341 30,341 31,747
CAD 18,559 18,659 19,965
SGD 20,203 20,353 20,913
JPY 161.6 163.1 167.63
GBP 34,814 35,164 36,026
XAU 14,918,000 0 15,322,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80