Thị trường tiền tệ tuần 18-22.3:

Thủ tướng chỉ đạo quản lý thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút tiền

Chí Tín
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý tuần qua là việc Thủ tướng Chính phủ đã có sự chỉ đạo quyết liệt trong việc quản lý thị trường vàng. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục thực hiện đợt hút tiền qua thị trường mở.
aa

Thủ tướng chỉ đạo về thị trường vàng

Tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã có công điện số 23/CĐ-TTg yêu cầu tăng cường các biện pháp quản lý thị trường vàng. Công điện của Thủ tướng cho biết NHNN chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả, kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp bình ổn thị trường vàng đã được giao tại các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng ban hành thời gian qua.

Thủ tướng yêu cầu đánh giá toàn diện, phân tích kỹ lưỡng và có các giải pháp hiệu quả, kịp thời, đúng quy định, theo nguyên tắc thị trường để xử lý ngay tình trạng chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế ở mức cao trong thời gian qua; không để tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế, không để tác động tiêu cực đến tỷ giá, lãi suất, thị trường tiền tệ, ngoại hối…

Ngay sau khi có công điện của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã có cuộc họp với các cơ quan liên quan về công tác quản lý thị tường vàng. Phó Thủ tướng yêu cầu NHNN báo cáo về tình hình sản xuất, kinh doanh vàng; tìm ra nguyên nhân, qua đó nhanh chóng có giải pháp khắc phục; bảo đảm quản lý vàng an toàn, bền vững, phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, liên thông với các thị trường liên quan, tránh tình trạng lợi dụng tình hình để buôn lậu, đầu cơ, thao túng thị trường.

Thủ tướng chỉ đạo quản lý thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút tiền
Thị trường mở đã hoạt động liên tục trong vòng 2 tuần qua. Ảnh: T.L
Bộ Công an sẽ “quan tâm” đến hoạt động buôn lậu vàng Nhanh chóng đưa thị trường vàng vào quỹ đạo ổn định

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bán tín phiếu

Một trong những động thái đáng quan tâm trên thị trường tài chính tuần qua là động thái tiếp tục hút tiền qua bán tín phiếu của NHNN trên thị trường mở. Theo đó, đây là tuần thứ hai liên tiếp NHNN thực hiện đợt bán tín phiếu lần này kể từ phiên đầu tiên diễn ra hôm 11/3.

Lãi suất liên ngân hàng tiếp đà giảm mạnh

Tuần qua cũng ghi nhận diễn biến giảm mạnh của lãi suất thị trường liên ngân hàng. Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm đã giảm về mức chỉ còn 0,16%/năm. Với các kỳ hạn khác, lãi suất kỳ hạn 1 tuần còn 0,58%, kỳ hạn 2 tuần còn 1,25%, kỳ hạn 1 tháng còn 1,7%...

Hoạt động bán tín phiếu của NHNN được giới tài chính đặc biệt quan tâm do trong lần bán tín phiếu lần trước kéo dài 1,5 tháng hồi tháng 9,10/2023, thị trường chứng khoán chứng kiến đợt sụt giảm mạnh. Khi đó, chỉ số VN-Index rơi một mạch từ mốc 1.250 điểm hồi đầu tháng 9/2023 xuống dưới 1.230 điểm vào cuối tháng 10/2023.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho biết, bối cảnh thị trường thời điểm này có nhiều điểm khác so với đợt bán tín phiếu lần trước của NHNN và theo đó, việc bán tín phiếu lần này không phải là yếu tố có thể làm chao đảo được sàn chứng khoán.

Bà Phan Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Khối tư vấn đầu tư thuộc Công ty chứng khoán VPBank cho biết, thực chất tín phiếu không phải là vấn đề lo lắng với thị trường chứng khoán thời điểm này mà vấn đề đáng quan tâm hơn là động thái của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED).

FED kết thúc cuộc họp tháng 3

Sự kiện tài chính quốc tế nổi bật nhất trong tuần qua là cuộc họp tháng 3 của FED với kết quả cho thấy cơ quan này tiếp tục duy trì lãi suất ở mức 5,25 - 5,5%, cũng là mức lãi suất cao nhất trong vòng 23 năm qua.

Kết quả giữ nguyên lãi suất của FED không quá bất ngờ đối với thị trường, nhưng cuộc họp cũng hé lộ thông điệp cho thấy cơ quan này vẫn bảo lưu khả năng có thể sẽ thực hiện 3 đợt giảm lãi suất trong năm 2024. Đây là một thông điệp được giới tài chính cho là tích cực và theo đó, thị trường chứng khoán đã phản ứng tích cực với các chỉ số chứng khoán đã tăng sau kết quả cuộc họp.

Sau cuộc họp của FED, giới tài chính quốc tế cũng có niềm tin nhiều hơn về khả năng sẽ có đợt hạ lãi suất đầu tiên vào tháng 6/2024. Công cụ FEDWatch dự báo động thái của FED cho kết quả về khả năng 63,7% FED sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp vào tháng 6/2024, cao hơn khá nhiều so với dự báo trước khi có kết quả cuộc họp tháng 3 vừa diễn ra.

Thủ tướng chỉ đạo quản lý thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút tiền
Giá vàng thế giới đã có một tuần biến động mạnh. Ảnh: T.L

Tỷ giá và giá vàng cùng tăng

Tỷ giá trung tâm mở đầu tuần mới ở mức 23.994 đồng/USD, tăng 15 USD so với cuối tuần trước và tiếp tục duy trì trạng thái tăng dần qua các ngày trong tuần. Hôm thứ sáu cuối tuần, tỷ giá trung tâm đạt mốc 24.003 đồng/USD, theo đó đã tăng 24 đồng mỗi Đô la trong vòng 1 tuần qua.

Tại ngân hàng thương mại, hôm đầu tuần 18/3, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD bán ra là 24.880 đồng/USD, giảm nhẹ so với cuối tuần trước, nhưng sau đó ngân hàng này liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trong các ngày tiếp theo. Hôm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank ghi nhận ở mức 24.970 đồng/USD, tăng 90 đồng mỗi Đô la so với hôm đầu tuần.

Trong khi đó, giá vàng trong nước cũng có một số thời điểm bật tăng mạnh và một phần do sự ảnh hưởng bởi sức nóng từ thị trường thế giới. Giá vàng miếng SJC 9999 hôm 21/3 mua vào là 79,8 triệu đồng/lượng và bán ra là 81,8 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn SJC 9999 mua vào 68,6 triệu đồng/lượng và bán ra quanh mốc 70 triệu đồng/lượng. Giá vàng trong nước tăng một phần chịu sự ảnh hưởng bởi đợt tăng mạnh của giá vàng thế giới trong 2 ngày 20 và 21/3, khi đó, giá vàng có lúc vượt mốc 2.210 USD/ounce, ghi nhận kỷ lục mọi thời đại.

Tuy nhiên, giá vàng cả thế giới và trong nước đã quay đầu giảm mạnh hôm thứ sáu cuối tuần, khi giá vàng thế giới tại thời điểm chiều ngày 22/3 theo giờ Việt Nam đã lùi về mốc chỉ còn 2.166 USD/ounce. Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC 9999 chiều ngày 22/3 mua vào ở mức 77,8 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 79,8 triệu đồng/lượng; giá vàng nhẫn SJC 9999 mua vào là 67,8 triệu đồng/lượng và bán ra là 69,1 triệu đồng/lượng.

Tăng cường thanh kiểm tra về thị trường vàng

Công điện 23 của Thủ tướng chỉ đạo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập để xử lý chủ động, tích cực, hiệu quả theo thẩm quyền và báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý phù hợp, đúng quy định đối với những vấn đề vượt thẩm quyền. Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật, nhất là các hành vi buôn lậu vàng qua biên giới, trục lợi, đầu cơ, thao túng, lợi dụng chính sách đẩy giá của các tổ chức, cá nhân...

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
NL 99.99 13,400 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼150K
Trang sức 99.9 13,600 ▼200K 14,200 ▼200K
Trang sức 99.99 13,610 ▼200K 14,210 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▼20K 14,242 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▼20K 14,243 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 ▼20K 1,419 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 ▼20K 142 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 ▼20K 1,409 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 ▼1980K 139,505 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 ▼1500K 105,836 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 ▼1360K 95,972 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 ▼1220K 86,108 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 ▼1166K 82,303 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 ▼834K 58,911 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cập nhật: 28/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17682 17955 18530
CAD 17807 18081 18698
CHF 30615 30991 31629
CNY 0 3824 3920
EUR 28899 29118 30198
GBP 33572 33960 34894
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14393 14978
SGD 19765 20047 20616
THB 688 752 805
USD (1,2) 25703 0 0
USD (5,10,20) 25742 0 0
USD (50,100) 25770 25784 26151
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,968 28,991 30,365
JPY 160.41 160.7 170.42
GBP 33,759 33,850 35,022
AUD 17,887 17,952 18,633
CAD 18,001 18,059 18,724
CHF 30,885 30,981 31,894
SGD 19,888 19,950 20,732
CNY - 3,793 3,938
HKD 3,243 3,253 3,390
KRW 17.56 18.31 19.92
THB 737.41 746.52 798.85
NZD 14,390 14,524 14,958
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,885 4,023
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,940.97 - 6,705.81
TWD 737.41 - 893.42
SAR - 6,798.39 7,161.72
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26150
AUD 17869 17969 18894
CAD 17993 18093 19107
CHF 30825 30855 32441
CNY 3807.6 3832.6 3967.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29089 29119 30842
GBP 33861 33911 35666
HKD 0 3315 0
JPY 161.17 161.67 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14503 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19917 20047 20778
THB 0 717.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14370000
SBJ 13000000 13000000 14370000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,670 25,790 26,180
USD20 25,640 25,790 26,180
USD1 25,633 25,790 26,180
AUD 17,892 18,042 19,181
EUR 28,866 29,016 30,717
CAD 17,903 18,053 19,382
SGD 19,965 20,165 20,751
JPY 161.38 162.88 168.64
GBP 33,703 33,903 35,027
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30