PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 cho thấy, PVI Holdings ghi nhận kết quả kinh doanh 9 tháng 2025 đầy ấn tượng. Tại hội nghị, lãnh đạo PVI cũng cập nhật tiến độ PVN thoái vốn và kế hoạch tìm đối tác chiến lược cho Hanoi Re, đồng thời hé lộ định hướng năm 2026 với trọng tâm củng cố nền tảng tăng trưởng thông qua tăng vốn và tái cơ cấu danh mục đầu tư.
aa
Bảo hiểm PVI: Song hành cùng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Quỹ Đầu tư cơ hội PVI - 10 năm kiến tạo giá trị, dẫn vốn cho nền kinh tế Ngân hàng bứt tốc thu nhập từ bảo hiểm, nhiều đề xuất mới tạo thêm lực đẩy

Chiều ngày 3/12, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần PVI (PVI Holdings) tổ chức Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 với chủ đề "Tiên phong không giới hạn", với sự tham gia đông đảo nhà đầu tư tổ chức, chuyên gia phân tích và đại diện các định chế tài chính trong và ngoài nước.

Tiến độ thoái vốn của PVN và tìm đối tác chiến lược cho Hanoi Re

Sự kiện diễn ra đúng thời điểm PVI sắp bước sang cột mốc 30 năm hình thành và phát triển sắp diễn ra vào tháng 1/2026, đây là một hành trình dài đủ để chứng kiến sự trưởng thành bền bỉ của doanh nghiệp, từ những nền tảng ban đầu đến vị thế dẫn đầu thị trường bảo hiểm - tài chính.

PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn
Ông Nguyễn Tuấn Tú - Tổng Giám đốc PVI chủ trì hội nghị. Ảnh: PVI.

Tại hội nghị, ông Trần Duy Cương - Kế toán trưởng Công ty Cổ phần PVI phác hoạ bức tranh kết quả kinh doanh ấn tượng sau 9 tháng 2025. Theo đó, Công ty ghi nhận 22.807 tỷ đồng doanh thu và 1.486,7 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế hợp nhất, tương ứng hoàn thành 139% kế hoạch doanh thu và 174% kế hoạch lợi nhuận 9 tháng.

Theo đại diện PVI, doanh thu 9 tháng 2025 tăng 36% so với cùng kỳ, được dẫn dắt bởi mức tăng trưởng 38% tại mảng kinh doanh bảo hiểm. Doanh thu bảo hiểm gốc đạt 11.712,9 tỷ đồng; tăng 10,2% cùng kỳ, tiệm cận mức tăng chung của thị trường. Đáng chú ý, doanh thu tái bảo hiểm tăng gần 99%, phản ánh chiến lược mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Mục tiêu cán mốc 1 tỷ USD nhân kỷ niệm 30 năm

Theo ông Trần Duy Cương, đơn vị cốt lõi là Bảo hiểm PVI hiện là doanh nghiệp đứng đầu thị trường với thị phần 18,2%, dẫn đầu về doanh thu và có quy mô tái bảo hiểm lớn nhất ngành. Cơ cấu sản phẩm phân bố tương đối đều, trong đó, bảo hiểm tài sản và cháy nổ, bảo hiểm con người đạt khoảng 21 - 25%; các sản phẩm khác như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu chiếm 8 - 11%, được đánh giá là hợp lý. PVI cũng đặt mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ USD chào mừng kỷ niệm 30 năm sắp tới.

Lợi nhuận trước thuế PVI đạt 1.504,4 tỷ đồng, tăng trên 50%, với đóng góp cân bằng từ lợi nhuận bảo hiểm đạt 757 tỷ đồng và lợi nhuận đầu tư cùng lợi nhuận khác đạt 730 tỷ đồng.

Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, PVI tiếp tục đứng đầu thị trường. Năm 2025, Công ty không chỉ duy trì xếp hạng tín nhiệm A- của AM Best mà còn được vinh danh trong nhiều giải thưởng uy tín trong và ngoài nước, đây cũng là dấu ấn cho thấy sức cạnh tranh và uy tín của một thương hiệu Việt trên sân chơi khu vực.

Tại hội nghị, nhiều nhà đầu tư quan tâm tác động của Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, tiến độ thoái vốn của PVN (Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam); việc tìm kiếm nhà đầu tư tiềm năng cho Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re).

Trong bối cảnh đầu tư công tăng tốc với hàng loạt dự án lớn, cổ đông đặt câu hỏi PVI sẽ khai thác cơ hội ra sao? Khi nhiều ngân hàng chuẩn bị thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tạo thêm nhân tố cạnh tranh, PVI đánh giá ra sao về tác động...

Thông tin về tiến độ thoái vốn của PVN, ông Nguyễn Tuấn Tú - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc PVI cho biết, PVN đặt mục tiêu thoái toàn bộ 35% vốn trong năm 2025, tuần này sẽ họp phương án và phương thức triển khai. Việc thoái vốn sẽ được triển khai theo hình thức bán theo lô và đấu giá công khai, đảm bảo minh bạch và tuân thủ đúng quy định.

Lãnh đạo PVI khẳng định, PVN là cổ đông chiến lược trong giai đoạn đầu, đóng góp lớn cho mảng bảo hiểm truyền thống từ năng lượng, nhưng việc thoái vốn không gây ảnh hưởng cho PVI. Quá trình phát triển của PVI cho thấy doanh nghiệp lớn mạnh, duy trì sức cạnh tranh cao và hiện là công ty bảo hiểm phi nhân thọ số 1 thị trường Việt Nam. Mối quan hệ PVN - PVI vừa là quan hệ cổ đông, vừa là quan hệ khách hàng, hướng đến lợi ích chung, ngay cả khi PVN thoái vốn.

Nền tảng vững cho 2026 từ tăng vốn, đến tái cơ cấu danh mục

PVI kỳ vọng năm 2025 sẽ khép lại với kết quả tích cực, doanh thu ước đạt 28,34 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.577 tỷ đồng, tạo nền tảng vững cho kế hoạch 2026. Bước sang năm mới, Công ty đặt mục tiêu doanh thu 28,82 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.244 tỷ đồng, mức điều chỉnh phù hợp với quá trình bình thường hóa lợi nhuận và tái cơ cấu danh mục. ROE vẫn duy trì trên 11%, phản ánh sức khỏe tài chính ổn định.

Đồng thời, PVI chuẩn bị triển khai kế hoạch tăng vốn 680 tỷ đồng, nhằm củng cố động lực tăng trưởng dài hạn và thúc đẩy hợp tác chiến lược, đặc biệt với Hanoi Re.

"Vấn đề tăng vốn cũng được đặt ra như “nguồn năng lượng” cho bộ máy, bởi quy mô hoạt động hiện nay cần mã lực cực kỳ lớn. Việc tăng vốn nhằm đáp ứng đầy đủ “nhiên liệu” để vận hành, cũng phù hợp với chiến lược 5 năm, đồng thời đảm bảo biên khả năng thanh toán" - Kế toán trưởng PVI ví von.

PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn
Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 kết nối với đầu cầu TP.HCM.

Chia sẻ thêm kế hoạch kinh doanh năm 2026, Kế toán trưởng PVI cho biết, doanh nghiệp không đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao trong năm 2026. Cơ cấu danh mục đã được điều chỉnh theo hướng đảm bảo tính bền vững cho giai đoạn 5 năm. Lợi nhuận từ mảng bảo hiểm dự kiến đạt 557 tỷ đồng, dự kiến chi phí quản lý rủi ro và chi phí tái bảo hiểm chắc chắn sẽ đắt đỏ hơn.

Hơn nữa, thị trường cạnh tranh vẫn dựa trên giá, khả năng xuất hiện các sự kiện bảo hiểm lớn hơn; tỷ lệ bồi thường năm tới dự kiến cũng ở mức cao hơn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp tiếp tục duy trì quan điểm thận trọng trong đánh giá lãi suất. Theo ông Trần Duy Cương, đến tháng 9/2025, lãi suất chưa tăng nhiều nhưng sang tháng 10 đã có xu hướng nhích lên. Hiện khó đặt kỳ vọng lãi suất tăng đột biến; chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa nhưng vẫn còn “cửa” để kiềm chế đà tăng lãi suất.

Cũng theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVIAM), trong quá trình dự báo xu hướng lãi suất năm 2026 và xây dựng kế hoạch năm tới, kịch bản lãi suất tiền gửi tăng khoảng 50 điểm cơ bản. Lãi suất có thể tăng nhẹ vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhưng sẽ không tăng quá cao nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phù hợp với định hướng của Chính phủ trong việc thúc đẩy GDP đạt mức 10%.

Với trái phiếu doanh nghiệp, bà Giao nhấn mạnh chiến lược đầu tư trọng yếu không phải theo đuổi lợi nhuận cao, mà là cân bằng rủi ro, thanh khoản và nghĩa vụ chi trả. Mục tiêu lớn nhất là đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ thống và duy trì mức độ an toàn trong quản trị rủi ro.

Trong tháng 12/2025, quỹ mới giải ngân các thương vụ trái phiếu doanh nghiệp có tài sản đảm bảo. Quỹ không đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp được đảm bảo bằng cổ phiếu hoặc các khoản không có tài sản đảm bảo, do khẩu vị rủi ro được thiết lập rất chặt chẽ.

Cũng theo bà giao, năm 2026, PVI AM sẽ ra mắt quỹ thành viên với chiến lược tập trung vào thị trường vốn nợ tư nhân phục vụ cho các định chế tài chính - bảo hiểm; đồng thời, phát triển quỹ mở trái phiếu nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư của khách hàng cá nhân...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 ▼300K 15,100 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 14,850 ▼300K 15,050 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 ▼500K 163,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 ▲1444K 16,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 ▲1444K 16,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 ▼5K 1,634 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 ▼5K 1,618 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 ▼495K 160,198 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 ▼375K 121,512 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 ▼340K 110,185 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 ▼305K 98,858 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 ▲77001K 94,489 ▲85011K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 ▼209K 67,627 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1444K 1,635 ▲1471K
Cập nhật: 16/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80