PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 cho thấy, PVI Holdings ghi nhận kết quả kinh doanh 9 tháng 2025 đầy ấn tượng. Tại hội nghị, lãnh đạo PVI cũng cập nhật tiến độ PVN thoái vốn và kế hoạch tìm đối tác chiến lược cho Hanoi Re, đồng thời hé lộ định hướng năm 2026 với trọng tâm củng cố nền tảng tăng trưởng thông qua tăng vốn và tái cơ cấu danh mục đầu tư.
aa
Bảo hiểm PVI: Song hành cùng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Quỹ Đầu tư cơ hội PVI - 10 năm kiến tạo giá trị, dẫn vốn cho nền kinh tế Ngân hàng bứt tốc thu nhập từ bảo hiểm, nhiều đề xuất mới tạo thêm lực đẩy

Chiều ngày 3/12, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần PVI (PVI Holdings) tổ chức Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 với chủ đề "Tiên phong không giới hạn", với sự tham gia đông đảo nhà đầu tư tổ chức, chuyên gia phân tích và đại diện các định chế tài chính trong và ngoài nước.

Tiến độ thoái vốn của PVN và tìm đối tác chiến lược cho Hanoi Re

Sự kiện diễn ra đúng thời điểm PVI sắp bước sang cột mốc 30 năm hình thành và phát triển sắp diễn ra vào tháng 1/2026, đây là một hành trình dài đủ để chứng kiến sự trưởng thành bền bỉ của doanh nghiệp, từ những nền tảng ban đầu đến vị thế dẫn đầu thị trường bảo hiểm - tài chính.

PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn
Ông Nguyễn Tuấn Tú - Tổng Giám đốc PVI chủ trì hội nghị. Ảnh: PVI.

Tại hội nghị, ông Trần Duy Cương - Kế toán trưởng Công ty Cổ phần PVI phác hoạ bức tranh kết quả kinh doanh ấn tượng sau 9 tháng 2025. Theo đó, Công ty ghi nhận 22.807 tỷ đồng doanh thu và 1.486,7 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế hợp nhất, tương ứng hoàn thành 139% kế hoạch doanh thu và 174% kế hoạch lợi nhuận 9 tháng.

Theo đại diện PVI, doanh thu 9 tháng 2025 tăng 36% so với cùng kỳ, được dẫn dắt bởi mức tăng trưởng 38% tại mảng kinh doanh bảo hiểm. Doanh thu bảo hiểm gốc đạt 11.712,9 tỷ đồng; tăng 10,2% cùng kỳ, tiệm cận mức tăng chung của thị trường. Đáng chú ý, doanh thu tái bảo hiểm tăng gần 99%, phản ánh chiến lược mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Mục tiêu cán mốc 1 tỷ USD nhân kỷ niệm 30 năm

Theo ông Trần Duy Cương, đơn vị cốt lõi là Bảo hiểm PVI hiện là doanh nghiệp đứng đầu thị trường với thị phần 18,2%, dẫn đầu về doanh thu và có quy mô tái bảo hiểm lớn nhất ngành. Cơ cấu sản phẩm phân bố tương đối đều, trong đó, bảo hiểm tài sản và cháy nổ, bảo hiểm con người đạt khoảng 21 - 25%; các sản phẩm khác như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu chiếm 8 - 11%, được đánh giá là hợp lý. PVI cũng đặt mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ USD chào mừng kỷ niệm 30 năm sắp tới.

Lợi nhuận trước thuế PVI đạt 1.504,4 tỷ đồng, tăng trên 50%, với đóng góp cân bằng từ lợi nhuận bảo hiểm đạt 757 tỷ đồng và lợi nhuận đầu tư cùng lợi nhuận khác đạt 730 tỷ đồng.

Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, PVI tiếp tục đứng đầu thị trường. Năm 2025, Công ty không chỉ duy trì xếp hạng tín nhiệm A- của AM Best mà còn được vinh danh trong nhiều giải thưởng uy tín trong và ngoài nước, đây cũng là dấu ấn cho thấy sức cạnh tranh và uy tín của một thương hiệu Việt trên sân chơi khu vực.

Tại hội nghị, nhiều nhà đầu tư quan tâm tác động của Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, tiến độ thoái vốn của PVN (Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam); việc tìm kiếm nhà đầu tư tiềm năng cho Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re).

Trong bối cảnh đầu tư công tăng tốc với hàng loạt dự án lớn, cổ đông đặt câu hỏi PVI sẽ khai thác cơ hội ra sao? Khi nhiều ngân hàng chuẩn bị thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tạo thêm nhân tố cạnh tranh, PVI đánh giá ra sao về tác động...

Thông tin về tiến độ thoái vốn của PVN, ông Nguyễn Tuấn Tú - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc PVI cho biết, PVN đặt mục tiêu thoái toàn bộ 35% vốn trong năm 2025, tuần này sẽ họp phương án và phương thức triển khai. Việc thoái vốn sẽ được triển khai theo hình thức bán theo lô và đấu giá công khai, đảm bảo minh bạch và tuân thủ đúng quy định.

Lãnh đạo PVI khẳng định, PVN là cổ đông chiến lược trong giai đoạn đầu, đóng góp lớn cho mảng bảo hiểm truyền thống từ năng lượng, nhưng việc thoái vốn không gây ảnh hưởng cho PVI. Quá trình phát triển của PVI cho thấy doanh nghiệp lớn mạnh, duy trì sức cạnh tranh cao và hiện là công ty bảo hiểm phi nhân thọ số 1 thị trường Việt Nam. Mối quan hệ PVN - PVI vừa là quan hệ cổ đông, vừa là quan hệ khách hàng, hướng đến lợi ích chung, ngay cả khi PVN thoái vốn.

Nền tảng vững cho 2026 từ tăng vốn, đến tái cơ cấu danh mục

PVI kỳ vọng năm 2025 sẽ khép lại với kết quả tích cực, doanh thu ước đạt 28,34 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.577 tỷ đồng, tạo nền tảng vững cho kế hoạch 2026. Bước sang năm mới, Công ty đặt mục tiêu doanh thu 28,82 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.244 tỷ đồng, mức điều chỉnh phù hợp với quá trình bình thường hóa lợi nhuận và tái cơ cấu danh mục. ROE vẫn duy trì trên 11%, phản ánh sức khỏe tài chính ổn định.

Đồng thời, PVI chuẩn bị triển khai kế hoạch tăng vốn 680 tỷ đồng, nhằm củng cố động lực tăng trưởng dài hạn và thúc đẩy hợp tác chiến lược, đặc biệt với Hanoi Re.

"Vấn đề tăng vốn cũng được đặt ra như “nguồn năng lượng” cho bộ máy, bởi quy mô hoạt động hiện nay cần mã lực cực kỳ lớn. Việc tăng vốn nhằm đáp ứng đầy đủ “nhiên liệu” để vận hành, cũng phù hợp với chiến lược 5 năm, đồng thời đảm bảo biên khả năng thanh toán" - Kế toán trưởng PVI ví von.

PVI Holdings hé lộ chiến lược kinh doanh năm 2026 với nhiều bước chuyển lớn
Hội nghị Nhà Đầu tư 2025 kết nối với đầu cầu TP.HCM.

Chia sẻ thêm kế hoạch kinh doanh năm 2026, Kế toán trưởng PVI cho biết, doanh nghiệp không đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao trong năm 2026. Cơ cấu danh mục đã được điều chỉnh theo hướng đảm bảo tính bền vững cho giai đoạn 5 năm. Lợi nhuận từ mảng bảo hiểm dự kiến đạt 557 tỷ đồng, dự kiến chi phí quản lý rủi ro và chi phí tái bảo hiểm chắc chắn sẽ đắt đỏ hơn.

Hơn nữa, thị trường cạnh tranh vẫn dựa trên giá, khả năng xuất hiện các sự kiện bảo hiểm lớn hơn; tỷ lệ bồi thường năm tới dự kiến cũng ở mức cao hơn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp tiếp tục duy trì quan điểm thận trọng trong đánh giá lãi suất. Theo ông Trần Duy Cương, đến tháng 9/2025, lãi suất chưa tăng nhiều nhưng sang tháng 10 đã có xu hướng nhích lên. Hiện khó đặt kỳ vọng lãi suất tăng đột biến; chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa nhưng vẫn còn “cửa” để kiềm chế đà tăng lãi suất.

Cũng theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVIAM), trong quá trình dự báo xu hướng lãi suất năm 2026 và xây dựng kế hoạch năm tới, kịch bản lãi suất tiền gửi tăng khoảng 50 điểm cơ bản. Lãi suất có thể tăng nhẹ vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhưng sẽ không tăng quá cao nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phù hợp với định hướng của Chính phủ trong việc thúc đẩy GDP đạt mức 10%.

Với trái phiếu doanh nghiệp, bà Giao nhấn mạnh chiến lược đầu tư trọng yếu không phải theo đuổi lợi nhuận cao, mà là cân bằng rủi ro, thanh khoản và nghĩa vụ chi trả. Mục tiêu lớn nhất là đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ thống và duy trì mức độ an toàn trong quản trị rủi ro.

Trong tháng 12/2025, quỹ mới giải ngân các thương vụ trái phiếu doanh nghiệp có tài sản đảm bảo. Quỹ không đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp được đảm bảo bằng cổ phiếu hoặc các khoản không có tài sản đảm bảo, do khẩu vị rủi ro được thiết lập rất chặt chẽ.

Cũng theo bà giao, năm 2026, PVI AM sẽ ra mắt quỹ thành viên với chiến lược tập trung vào thị trường vốn nợ tư nhân phục vụ cho các định chế tài chính - bảo hiểm; đồng thời, phát triển quỹ mở trái phiếu nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư của khách hàng cá nhân...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17610 17882 18455
CAD 17988 18263 18880
CHF 31903 32284 32927
CNY 0 3834 3927
EUR 29340 29561 30636
GBP 34213 34603 35535
HKD 0 3221 3423
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15212
SGD 19781 20062 20628
THB 705 768 822
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26465
AUD 17784 17884 18807
CAD 18146 18246 19260
CHF 32096 32126 33716
CNY 3814.4 3839.4 3974.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31233
GBP 34428 34478 36246
HKD 0 3355 0
JPY 158.24 158.74 169.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14730 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,128 26,178 26,465
USD20 26,128 26,178 26,465
USD1 23,946 26,178 26,465
AUD 17,830 17,930 19,037
EUR 29,667 29,667 31,075
CAD 18,098 18,198 19,501
SGD 19,987 20,137 20,691
JPY 158.62 160.12 164.67
GBP 34,247 34,597 35,600
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80