Ngân hàng bứt tốc thu nhập từ bảo hiểm, nhiều đề xuất mới tạo thêm lực đẩy

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thu nhập từ hoạt động bảo hiểm của một nhóm ngân hàng tăng 22,2% trong 9 tháng 2025, cho thấy đà phục hồi mạnh sau giai đoạn "chuẩn hóa". Trao đổi với phóng viên, TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế nhận định, dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) với định hướng giảm gánh nặng hành chính, chi phí tuân thủ và mở rộng cơ hội đầu tư sẽ tiếp tục tạo động lực tăng trưởng mới cho toàn ngành.
aa

PV: Số liệu từ báo cáo tài chính các ngân hàng cho thấy, sau giai đoạn "chuẩn hoá", tái cấu trúc, thu nhập từ hoạt động bảo hiểm của các nhà băng trong 9 tháng của năm 2025 bật tăng 22,2% so với cùng kỳ. Theo ông, những yếu tố nào đang thúc đẩy sự phục hồi mạnh mẽ này?

Ngân hàng bứt tốc thu nhập từ bảo hiểm, nhiều đề xuất mới tạo thêm lực đẩy
TS. Lê Bá Chí Nhân

TS. Lê Bá Chí Nhân: Sau giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ thị trường bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm liên kết đầu tư các năm 2023 - 2024, với doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ từng sụt giảm do tình trạng bán kèm “combo” thiếu minh bạch và nhiều vụ việc làm giảm niềm tin khách hàng, ngành bảo hiểm đã chuyển sang giai đoạn phát triển minh bạch, lành mạnh và bền vững hơn.

Đến năm 2025, nhiều ngân hàng thương mại quay lại mạnh mẽ với mảng bảo hiểm, ghi nhận thu nhập từ hoạt động bảo hiểm tăng trưởng khả quan trong 9 tháng đầu năm.

Dựa trên phân tích từ các báo cáo tài chính và xu hướng thị trường, các động lực chính khiến thị trường phục hồi tích cực chủ yếu đến từ chiến lược mở rộng hệ sinh thái tài chính toàn diện của các ngân hàng, trong đó có mảng phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance).

Theo đó, các ngân hàng đang tận dụng mạng lưới khách hàng sẵn có để tích hợp bảo hiểm vào dịch vụ cốt lõi, đẩy mạnh thành lập công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tạo nguồn thu nhập phi tín dụng ổn định và đa dạng hóa rủi ro.

Đơn cử, Techcombank đã tái cấu trúc thỏa thuận phân phối bảo hiểm từ quý I/2025, trong khi các ngân hàng như VietinBank ghi nhận tăng trưởng doanh thu bảo hiểm hơn 17%. Điều này giúp ngân hàng giảm phụ thuộc vào lãi suất, tín dụng, đặc biệt khi tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt 13,37% trong 9 tháng 2025 nhưng áp lực lãi suất thấp vẫn tồn tại.

Cùng với đó, niềm tin của khách hàng dần được khôi phục và nhu cầu thị trường tăng trở lại. Các quy định mới từ Bộ Tài chính, nổi bật là Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 1/7/2023 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm đưa bảo hiểm liên kết đầu tư “sang trang mới”, loại bỏ tình trạng lạm dụng bán kèm và tập trung vào giá trị bảo vệ thực chất.

Ngân hàng bứt tốc thu nhập từ bảo hiểm, nhiều đề xuất mới tạo thêm lực đẩy
Nguồn: Tổng hợp của TBTCVN. Đồ họa: Phương Anh

PV: Tiếp đà phục hồi của thị trường, dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) được trình tại kỳ họp Quốc hội lần này dự kiến cắt giảm ít nhất 30% điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục cho doanh nghiệp, mở ra nhiều kỳ vọng mới cho ngành. Theo ông, những cải cách này sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) được Quốc hội dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 10 tập trung vào việc cắt giảm ít nhất 30% điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho toàn ngành. Từ đó, tạo tác động tích cực, giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong hoạt động, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh, dù vẫn cần duy trì các biện pháp quản lý rủi ro để đảm bảo an toàn hệ thống.

Dự thảo đề xuất cắt giảm khoảng 22 điều kiện kinh doanh cụ thể và đơn giản hóa 3 thủ tục hành chính. Chẳng hạn, đề xuất bãi bỏ yêu cầu xác nhận không vi phạm nghiêm trọng từ cơ quan quản lý nước ngoài với chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, hay loại bỏ các điều kiện chung về tiêu chuẩn quản lý và kiểm soát..., giúp rút ngắn thời gian thành lập hoặc mở rộng chi nhánh, giảm chi phí giấy tờ và tuân thủ.

Nới lỏng nhưng không lơi lỏng nhờ hậu kiểm

Mặc dù tác động của dự thảo Lut Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) là tích cực, việc nới lỏng có thể dẫn đến rủi ro cao hơn nếu không có hậu kiểm chặt chẽ, như tăng cạnh tranh giá cả dẫn đến giảm lợi nhuận hoặc rủi ro mất khả năng chi trả. Dự thảo vẫn nhấn mạnh bảo đảm an toàn hệ thống qua các quy định về kiểm soát rủi ro và minh bạch, nên doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ và nhân sự chất lượng cao để thích ứng.

TS. Lê Bá Chí Nhân

Bên cạnh đó, thay vì phải đăng ký, doanh nghiệp phi nhân thọ chỉ cần thông báo về việc tách vốn chủ sở hữu và quỹ phí bảo hiểm, cũng như phương pháp tính phí bảo hiểm xe cơ giới. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp điều chỉnh giá cả linh hoạt hơn, phản ứng nhanh với biến động thị trường, từ đó, tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ.

Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, việc cắt giảm điều kiện đầu tư sẽ thu hút thêm vốn nước ngoài vào lĩnh vực này. Doanh nghiệp phi nhân thọ có thể dễ dàng hơn trong việc thành lập chi nhánh mới hoặc phát triển sản phẩm, đặc biệt khi dự thảo bãi bỏ các điều kiện chính thức hoạt động trong 12 tháng, mà chuyển sang hậu kiểm.

Ngoài ra, sửa đổi phạm vi hoạt động để làm rõ, giảm nhầm lẫn pháp lý, giúp doanh nghiệp phi nhân thọ tập trung vào các rủi ro ngắn hạn như: tai nạn, thiên tai..., mà không bị chồng chéo với nhân thọ. Điều này có thể thúc đẩy tăng trưởng doanh thu, dự kiến thị trường phi nhân thọ tiếp tục mở rộng với tốc độ cao hơn nhân thọ nhờ nhu cầu bảo vệ tài sản ngày càng tăng.

PV: Từ nhiều dấu hiệu ảnh hưởng tích cực kể trên, ông đánh giá như thế nào về triển vọng tăng trưởng của thị trường bảo hiểm thời gian tới?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Về triển vọng của lĩnh vực bancassurance, dự báo thị trường sẽ tích cực nhưng phụ thuộc vào một số yếu tố then chốt. Theo dự báo của Standard Chartered, GDP Việt Nam có thể duy trì mức tăng trưởng cao năm 2026, qua đó, hỗ trợ ngành ngân hàng đạt mức lợi nhuận tăng khoảng 18%, nhờ tín dụng phục hồi và ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) 18%. Tuy nhiên, nếu lạm phát hoặc lãi suất biến động, hiệu quả của bảo hiểm đầu tư liên kết có thể chịu ảnh hưởng.

Cùng với đó, triển vọng tăng trưởng phụ thuộc vào khả năng số hóa kênh phân phối (digital bancassurance) để giảm chi phí và tăng tiếp cận khách hàng trẻ. Nếu ngân hàng không đầu tư, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để cá nhân hóa sản phẩm, tăng trưởng có thể chỉ ở mức 10 - 15% thay vì cao hơn.

Ngoài ra, già hóa dân số sẽ đẩy nhu cầu bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, nhưng rủi ro thiên tai như bão lũ có thể tăng chi phí bồi thường nếu không quản lý tốt. Nếu các yếu tố vĩ mô thuận lợi, tăng trưởng có thể đạt 15 - 20% năm 2026, nhưng cần theo dõi chặt chẽ rủi ro địa chính trị và tác động của biến đổi khí hậu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thu nhập từ bảo hiểm tại nhiều ngân hàng tăng mạnh

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, mảng bảo hiểm tiếp tục là trụ cột thu nhập phi tín dụng quan trọng tại một số ngân hàng, với tổng thu từ hoạt động bảo hiểm 9 tháng 2025 của nhóm khảo sát đạt khoảng 12.433 tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ.

Theo đó, MB và VPBank tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” khi MB ghi nhận hơn 6.590 tỷ đồng, bỏ xa các nhà băng và duy trì tốc độ tăng trưởng 10% cùng kỳ. VPBank ghi nhận 4.122,8 tỷ đồng thu từ hoạt động bảo hiểm, tăng mạnh 46,2% cùng kỳ.

Các ngân hàng còn lại thu dưới 1.000 tỷ đồng, song tốc độ tăng trưởng hai chữ số, biến bảo hiểm thành nguồn thu ổn định, ít phụ thuộc vào biến động lãi suất. Theo đó, trong 9 tháng 2025, Techcombank thu hơn 890 tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm, tăng 49,9%; VIB thu 481,6 tỷ đồng, tăng 39,5%; SeABank tăng 63%, lên 142,7 tỷ đồng; PGBank cũng tăng mạnh 85,5% lên 19,4 tỷ đồng dù doanh thu còn nhỏ.

Ở chiều ngược lại, có hai nhà băng chứng kiến sụt giảm mạnh, lần lượt 18,8% và 47% cùng kỳ. Theo các chuyên gia, giai đoạn đại lý và tư vấn viên bảo hiểm “bán bằng mọi giá” đã khép lại. Trong bối cảnh mới, những ngân hàng sở hữu hệ sinh thái số toàn diện, tuân thủ quy định chặt chẽ và có năng lực tư vấn chuyên nghiệp đang nắm lợi thế cạnh tranh rõ rệt.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80