HDBank triển vọng hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanh 2025

(TBTCO) - Tại Hội nghị Nhà đầu tư quý III/2025 tổ chức ngày 10/11/2025, Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - mã Ck: HDB) duy trì quan điểm tự tin về khả năng tăng tốc trong quý IV, hướng tới hoàn thành vượt mức kế hoạch lợi nhuận cả năm 2025.
aa
HDBank phát hành thành công 50 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế
HDBank: Lợi nhuận 9 tháng vượt 14.800 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu về tỷ suất lợi nhuận

Tại hội nghị, đại diện Ban lãnh đạo HDBank cho biết hoạt động kinh doanh 9 tháng đầu năm đạt kết quả tích cực, nhiều chỉ tiêu tăng trưởng vượt kế hoạch: tín dụng tăng 22,6%, lợi nhuận trước thuế 14.803 tỷ đồng (+17%), thu nhập ngoài lãi 5.366 tỷ đồng (+178,6%), ROE 25,2%, ROA 2,1%, CIR 25,7% - thuộc nhóm thấp nhất ngành. HDBank hiện phục vụ hơn 20 triệu khách hàng, tăng trưởng bền vững với nền tảng tài chính được quốc tế đánh giá cao và xếp hạng tín nhiệm Moody’s thuộc nhóm cao nhất toàn ngành.

Các công ty thành viên cũng đạt kết quả khả quan trong 9 tháng đầu năm: HD SAISON đạt lợi nhuận 1.100 tỷ đồng (ROE 24,4%); HD Securities lợi nhuận 614 tỷ đồng (+30%, dẫn đầu ngành về ROE); Vikki Bank có lãi sau 7 tháng chuyển đổi, thu hút hơn 1,3 triệu khách hàng mới.

HDBank triển vọng hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanh 2025
Đại diện Ban lãnh đạo HDBank tại Hội nghị Nhà đầu tư quý III/2025.

Ngân hàng đã được cổ đông thông qua kế hoạch chuyển trụ sở về Saigon Marina IFC - một biểu tượng mới của trung tâm tài chính quốc tế TP.HCM, đồng thời lấy ý kiến về phương án chia cổ tức và cổ phiếu thưởng 30% (25% cổ tức, 5% thưởng), tiếp tục duy trì chính sách chi trả cao và ổn định qua các năm.

Chia sẻ với nhà đầu tư tại hội nghị, Ban lãnh đạo HDBank duy trì quan điểm tự tin về khả năng tăng tốc trong quý 4, hướng tới hoàn thành kế hoạch lợi nhuận cả năm 2025, nhờ hai động lực chính: Nhu cầu tín dụng theo mùa cao điểm cuối năm và triển vọng cải thiện chất lượng tài sản trong bối cảnh vĩ mô thuận lợi hơn. Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và đủ bù đắp phần áp lực biên lãi ròng (NIM).

Dù vậy, chi phí tín dụng và nợ xấu cần thêm thời gian để cải thiện. Diễn biến quý III/2025 cho thấy khả năng điều chỉnh giảm nhẹ trong dự báo lợi nhuận, song triển vọng tăng trưởng và kết quả năm 2025 vẫn tích cực và dự kiến vượt mức kế hoạch.

Trong phần trao đổi tại hội nghị, Ban lãnh đạo HDBank thông tin cụ thể hơn về triển vọng tăng trưởng tín dụng. 9 tháng đầu năm, HDBank đã bán hơn 37.000 tỷ đồng nợ cho một ngân hàng khác theo chương trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Ban lãnh đạo đặt mục tiêu cả năm tăng trưởng tín dụng tới 35%.

Động lực tăng trưởng tín dụng được dẫn dắt bởi nhu cầu vốn từ khu vực FDI, xuất nhập khẩu, chương trình nhà ở và xây dựng trong mùa cao điểm, cùng sự cải thiện rõ rệt của mảng cho vay bán lẻ ở thế chấp và tiêu dùng. Trong triển vọng này, HDBank cho biết đã được Ngân hàng Nhà nước phân bổ hạn mức phù hợp với năng lực tài chính và định hướng tăng trưởng của ngân hàng, qua đó có điều kiện đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong quý cuối năm.

Về biên lãi ròng (NIM), HDBank đặt mục tiêu 4,8-5,0% cho cả năm 2025, thấp hơn mức 5,09% trong 9 tháng đầu năm, phản ánh phần nào áp lực lãi suất huy động tăng. Tuy nhiên, thanh khoản được duy trì ở mức tốt với tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đạt 71,3%, thấp hơn đáng kể so với trần 85%, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ 22,3%. HDBank cũng đã thu xếp thành công hơn 500 triệu USD vốn nước ngoài với chi phí cạnh tranh, và triển vọng Fed giảm lãi suất có thể giúp giảm thêm chi phí huy động USD thời gian tới.

Trong khi đó, thu nhập ngoài lãi tiếp tục tăng trưởng tốt nhờ nguồn thu từ phí thanh toán, bancassurance và thu hồi nợ. Đặc biệt, từ giữa tháng 10/2025, khi khung pháp lý mới về quyền thu giữ tài sản bảo đảm có hiệu lực, ngân hàng đã có điều kiện xử lý nợ nhanh hơn và cải thiện dòng tiền thu hồi.

Ban lãnh đạo HDBank đánh giá nợ xấu sẽ cải thiện rõ từ cuối năm 2025 sang đầu năm 2026 nhờ môi trường vĩ mô ổn định, thanh khoản bất động sản phục hồi và quy định xử lý tài sản bảo đảm thuận lợi hơn, qua đó hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu về khoảng 2% vào cuối năm nay.

Về triển vọng lợi nhuận sau kết quả 9 tháng, Ban lãnh đạo HDBank cho biết ngân hàng tiếp tục hướng tới mục tiêu lợi nhuận năm 2025 vượt 21.000 tỷ đồng, đồng thời kỳ vọng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) lợi nhuận đạt 25 - 30% trong giai đoạn 2025-2030. Các công ty thành viên cũng đặt kế hoạch tăng trưởng tích cực: HD SAISON dự kiến dư nợ tăng 15-16%, hướng tới lợi nhuận 1.500 tỷ đồng; HD Securities đặt mục tiêu 1.000 tỷ đồng lợi nhuận, tiếp tục duy trì hiệu quả ROE đầu ngành.

Ban lãnh đạo HDBank khẳng định, với nền tảng tài chính vững, năng lực huy động tốt và chất lượng tài sản cải thiện, ngân hàng hoàn toàn có cơ sở để tăng tốc trong quý IV/2025. Chiến lược tập trung vào tăng trưởng hiệu quả, kiểm soát rủi ro, đẩy mạnh số hóa và mở rộng khách hàng bán lẻ tiếp tục là trọng tâm trong giai đoạn 2025 - 2030./.

Hải Băng

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80