Dư nợ trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm chiếm hơn 33%, các tổ chức xếp hạng củng cố tính độc lập

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Xếp hạng tín nhiệm ngày càng khẳng định vai trò trong việc nâng cao tính minh bạch và kỷ luật trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Trong 10 tháng 2025, trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm đạt 287,4 nghìn tỷ đồng, dư nợ trái phiếu được xếp hạng chiếm tới 33,7%; cùng 144 doanh nghiệp được xếp hạng từ trước đến nay. Cùng việc thị trường “mở lòng” hơn với văn hóa xếp hạng tín nhiệm, các tổ chức chú trọng kiểm soát xung đột lợi ích, giữ vững tính độc lập.
aa

Xếp hạng tín nhiệm nội địa: Động lực thúc đẩy minh bạch thị trường trái phiếu Việt Nam

6 công ty xếp hạng tín nhiệm của Mỹ bị phạt do sai sót nghiêm trọng về quản lý thông tin Xếp hạng tín nhiệm: Đòn bẩy phát triển bền vững cho doanh nghiệp bảo hiểm

Ngày 12/11, Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Ngoại giao và Thương mại (Úc) tổ chức hội thảo "Thị trường xếp hạng tín nhiệm Việt Nam: Định hướng và tiềm năng phát triển".

Tiếp tục nâng chuẩn minh bạch, siết kỷ luật thị trường

Phát biểu tại hội thảo, bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, hoạt động xếp hạng tín nhiệm là một dịch vụ quan trọng trên thị trường tài chính, đóng góp thiết yếu vào việc tăng cường tính minh bạch của thị trường, qua đó, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững và chuyên sâu của thị trường tài chính. Xuất phát từ tính chất này, hoạt động xếp hạng tín nhiệm luôn phát triển song hành với thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Dư nợ trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm chiếm hơn 33%, các tổ chức xếp hạng củng cố tính độc lập
Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính phát biểu tại hội thảo.

Trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm bùng nổ, dư nợ chiếm trên 30%

Thông tin từ Vụ Các định chế tài chính cho thấy, trong 10 tháng đầu năm 2025, giá trị trái phiếu phát hành có xếp hạng tín nhiệm đạt 287,4 nghìn tỷ đồng, gấp 2,1 lần cùng kỳ năm 2024. Theo đó, đến nay, các doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm trong nước đã thực hiện xếp hạng cho khoảng 144 doanh nghiệp trong các ngành bất động sản, chứng khoán, năng lượng sản xuất. Tổng dư nợ trái phiếu của các tổ chức phát hành có xếp hạng tín nhiệm đạt gần 461 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 33,7% tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp toàn thị trường.

Lãnh đạo Vụ Các định chế tài chính nêu rõ, hoạt động này mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường.

Đối với cơ quan quản lý, hoạt động xếp hạng tín nhiệm góp phần tạo lập môi trường thông tin tài chính minh bạch hơn, chuyên nghiệp hơn để thị trường vốn, thị trường trái phiếu phát triển ngày càng công khai, minh bạch.

Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động và đầu tư trên thị trường; cho các thành viên thị trường, trong đó, có cả các định chế tài chính đặc thù như ngân hàng, công ty bảo hiểm hay quỹ hưu trí tham khảo khi xây dựng các chỉ tiêu an toàn tài chính hay đánh giá rủi ro đầu tư.

Cũng theo Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 245/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 155/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chứng khoán (Nghị định 245), trong đó, quy định bắt buộc phải có kết quả xếp hạng tín nhiệm và việc áp dụng kết quả xếp hạng tín nhiệm khi chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng.

Dư nợ trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm chiếm hơn 33%, các tổ chức xếp hạng củng cố tính độc lập
Toàn cảnh hội thảo.

Theo đó, tổ chức phát hành hoặc trái phiếu đăng ký chào bán phải được xếp hạng tín nhiệm bởi tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, ngoại trừ trường hợp trái phiếu phát hành của tổ chức tín dụng hoặc trái phiếu được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính ở nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế bảo lãnh thanh toán toàn bộ gốc và lãi trái phiếu. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm không phải là người có liên quan của tổ chức phát hành.

"Những thay đổi này không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư và nâng cao kỷ luật tài chính, mà còn hướng tới phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp an toàn, bền vững trong thời gian tới" - bà Tâm nhấn mạnh.

Cũng theo bà Arabella Bennett - Bí thư thứ hai, Đại sứ quán Úc tại Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, việc ban hành Nghị định 245 là một dấu mốc quan trọng, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn trên thị trường vốn. Nghị định này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán, vừa siết chặt quy định về phát hành trái phiếu thông qua yêu cầu xếp hạng tín nhiệm độc lập. Những cải cách này không chỉ nâng cao tính minh bạch, mà còn giúp thị trường vốn Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế.

Cùng với đó, việc FTSE Russell vừa nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp được xem là cột mốc quan trọng, hứa hẹn thu hút thêm dòng vốn ngoại, củng cố uy tín quốc gia và góp phần xây dựng hệ thống tài chính Việt Nam ngày càng ổn định, đa dạng hơn.

Bà Arabella Bennett nhấn mạnh, Chính phủ Úc cam kết đồng hành, hỗ trợ phát triển thị trường xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam, nâng cao năng lực cho các tổ chức xếp hạng trong nước và thúc đẩy nhu cầu thị trường, cũng như phát triển thị trường tài chính bền vững hơn.

Thị trường "mở lòng" hơn với văn hóa xếp hạng tín nhiệm

Đại diện tổ chức xếp hạng tín nhiệm, bà Bá Thị Thu Huệ - Giám đốc Thương mại FiinRatings cho biết, sau 5 năm hoạt động, công ty đã cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm cho hơn 70 doanh nghiệp và có hơn 20 tổ chức đầu tư thường xuyên sử dụng dịch vụ mảng xếp hạng tín nhiệm.

Thị trường xếp hạng tín nhiệm Việt Nam: Định hướng và tiềm năng phát triển
Các đại biểu chụp hình lưu niệm tại hội thảo "Thị trường xếp hạng tín nhiệm Việt Nam: Định hướng và tiềm năng phát triển". Ảnh: Đức Minh.

Theo đại diện FiinRatings, xếp hạng tín nhiệm không phải là “kim chỉ nam” chính xác hay cuối cùng, nhưng lại là nguồn tham khảo có giá trị lớn giúp doanh nghiệp xây dựng phương án phát hành phù hợp.

"Các thành viên trên thị trường ngày càng mở lòng hơn. Các tổ chức như ADB, cùng các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều chính sách cổ vũ việc sử dụng văn hoá xếp hạng tín nhiệm" - bà Huệ nhấn mạnh.

Đại diện FiinRatings cũng kỳ vọng, nhà đầu tư từ các quỹ bảo hiểm khi được mở rộng hơn, giá trị xếp hạng tín nhiệm sẽ được tận dụng hơn nữa trên thị trường.

Dưới góc nhìn kinh nghiệm quốc tế, ông Raman Uberoi - Chuyên gia thị trường tài chính, Công ty Xếp hạng tín nhiệm Crisil Limited nhấn mạnh, đối với mỗi doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm, uy tín và tính độc lập là nền tảng then chốt để xây dựng một doanh nghiệp vững mạnh. Để đảm bảo những điều này, điều quan trọng là các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp phải đạt mức cao nhất.

Cũng theo ông Raman Uberoi, doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm cũng phải giải quyết các vấn đề liên quan đến xung đột lợi ích. Mặc dù không bao giờ có thể được loại bỏ hoàn toàn xung đột lợi ích, nhưng doanh nghiệp cần thể được quản lý và kiểm soát hiệu quả. Cơ quan quản lý cũng xử lý nghiêm việc mua bán kết quả xếp hạng tín nhiệm trên thị trường/.

Kiểm soát xung đột lợi ích, giữ vững tính độc lập

Chia sẻ tại hội thảo, ông Trần Lê Minh - Tổng Giám đốc VIS Rating nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc đề phòng, loại bỏ tối đa xung đột lợi ích để bảo vệ tính độc lập của hoạt động xếp hạng tín nhiệm, không chỉ quản trị xung đột lợi ích với các bên bên ngoài, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát xung đột lợi ích nội bộ giữa các bộ phận và nhân viên. Thực tế cho thấy, xung đột lợi ích trong nội bộ công ty xếp hạng tín nhiệm có thể gây tổn hại lớn hơn so với xung đột với bên ngoài, vốn thường dễ nhận biết hơn.

Chính sách tuân thủ toàn diện tập trung vào quản lý xung đột, nguyên tắc tách biệt, bảo vệ dữ liệu, chống hối lộ và quản lý quà tặng.

"Từ những ngày đầu, thị phần chưa có gì, nhưng từ năm 2023 đến nay, số lượng khách hàng VIS Rating đã chiếm khoảng 1/3 toàn thị trường" - ông Minh nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80