Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống tăng mạnh ngay từ quý đầu năm, đạt 3,93%, gấp 2,5 lần cùng kỳ và vẫn tiếp đà tăng trưởng tích cực, ước "bơm" ra nền kinh tế 600 nghìn tỷ đồng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh giữ vai trò dẫn dắt về quy mô, nhiều nhà băng nhỏ tăng tốc gần hoàn thành kế hoạch cả năm, tạo nên bức tranh phân hóa rõ nét trên đường đua tín dụng.
aa
Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tính đến hết quý I/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 3,93%, gấp 2,5 lần so với mức 1,42% của cùng kỳ. Với dư nợ cuối năm 2024 đạt gần 15,6 triệu tỷ đồng, như vậy, chỉ trong quý đầu năm, dư nợ tín dụng đạt 16,2 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng 600 nghìn tỷ đồng.

Có nhà băng tăng trên 10%

Thống kê của phóng viên từ 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý I/2025 cũng cho thấy, tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng có mức tăng tương ứng 3,8%, đạt hơn 12,3 triệu tỷ đồng. Trong số đó, có tới 25/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay khách hàng, chỉ riêng ABBank và Saigonbank sụt giảm so với cuối năm 2024.

Khối ngân hàng quốc doanh duy trì vị thế đầu tàu

Trong quý I/2025, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, VietinBank và Vietcombank tiếp tục thể hiện vai trò chủ lực, chiếm quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống. Trong đó, BIDV đứng đầu với hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 2,5% so với cuối năm 2024. VietinBank có mức tăng khá cao ở nhóm này, đạt 4,6%, trong khi Vietcombank tăng nhẹ 1,2%.

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất kìm giữ ở mức thấp, áp lực tăng tín dụng lớn, các ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân chủ động đẩy mạnh hoạt động cho vay ngay từ đầu năm. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là KienlongBank, lên tới 10,6%. Theo sau là nhóm các ngân hàng tăng 9 - 10%, trong đó phần lớn các ngân hàng có quy mô nhỏ, có thể kể đến như: NCB (9,6%), PGBank (9,4%), Eximbank (9,2%) và SHB (9,2%).

Thuộc top 10 các ngân hàng tăng trưởng cho vay khách hàng nhanh nhất toàn hệ thống còn có: MSB (tăng 7,9%); LPBank (6,2%); Nam A Bank (6%). Hai ngân hàng tư nhân quy mô lớn như: VPBank và Techcombank bám đuổi sát nút, với tốc độ tăng đáng kể chỉ sau quý đầu, lần lượt 5,4% và 5,1%.

Ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận dư nợ suy giảm như Saigonbank (giảm 4,3%) và ABBank (giảm 0,7%), cho thấy có thể các nhà băng đang trong giai đoạn tái cơ cấu danh mục tín dụng hoặc thận trọng hơn trong việc mở rộng cho vay.

Tiếp đà tăng trưởng tích cực, tính đến ngày 15/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,23 triệu tỷ đồng, tăng 3,95% so với cuối năm 2024 và tăng 18,19% cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024, dư nợ tín dụng tăng 1,21% so với tháng 12/2023), theo báo cáo cập nhật của NHNN. Tín dụng tiếp tục hướng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo.

Những lối đi riêng

Là ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng lớn nhất toàn hệ thống và cũng là nhà băng duy nhất vượt mốc 2 triệu tỷ đồng dư nợ, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo hạn mức NHNN giao, dự kiến ở mức 16%. Tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, BIDV thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ lên gần 91.870 tỷ đồng. Phần vốn điều lệ tăng thêm sẽ được sử dụng toàn bộ để bổ sung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh, với trọng tâm là mở rộng tín dụng.

Theo đó, BIDV sẽ phân bổ nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng ưu tiên các lĩnh vực trọng yếu như doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, cũng như đẩy mạnh tín dụng xanh và tín dụng bán lẻ. Đây là những định hướng chiến lược nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng bền vững, vừa đảm bảo hiệu quả trong quản lý rủi ro tín dụng.

Phát biểu gần đây, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản khoảng 10% trong năm 2025, tiệm cận 2,3 triệu tỷ đồng, với tăng trưởng tín dụng tối đa 16,28%, phù hợp với định hướng NHNN giao.

Trong năm 2025, Vietcombank có 3 động lực chính thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đó là giải ngân đầu tư công và dòng vốn FDI, đặc biệt tại các dự án trọng điểm như sân bay Long Thành, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; đẩy mạnh bán lẻ và hưởng lợi từ ưu đãi khi nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Ngay trong quý I/2025, ngân hàng ký kết nhiều hợp đồng tín dụng lớn, tạo nền tảng thuận lợi để hiện thực hóa các chỉ tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Với các nhà băng quy mô nhỏ, KienlongBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15,57% năm 2025, nâng dư nợ cấp tín dụng từ 61.432 tỷ đồng lên 71.000 tỷ đồng. Với tốc độ tăng lên tới 10,6% chỉ sau quý đầu năm, ngân hàng này hoàn thành 2/3 kế hoạch cả năm.

Chia sẻ định hướng phát triển tín dụng năm nay, theo ông Trần Hồng Minh - quyền Tổng Giám đốc KienlongBank, ngân hàng sẽ tập trung phát triển tín dụng theo 3 nhóm khách hàng mục tiêu. Đó là nhóm khách hàng khu vực nông thôn, vốn là tệp khách hàng truyền thống của KienlongBank, ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng và thanh toán không tiền mặt; nhóm khách hàng trẻ thành thị tập trung cho vay tiêu dùng, phát triển phân khúc khách hàng ưu tiên; nhóm khách hàng kênh số triển khai sản phẩm tín dụng trực tuyến, dịch vụ số tích hợp.

"Với 3 định hướng này KienlongBank hy vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng tín dụng và có một số điểm mới, tệp khách hàng mới trong 2025" - ông Minh mong đợi.

Còn với NCB, ngân hàng có bước khởi đầu tích cực 9,6% chỉ trong quý I/2025 và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cho vay khách hàng 30%, lên 92.528 tỷ đồng. NCB định hướng trọng tâm là ngân hàng bán lẻ, phát triển mảng ngân hàng số và dịch vụ quản lý tài sản số (digital wealth). Ngân hàng năm nay tiếp tục đẩy mạnh cho vay mua nhà tại các dự án do các chủ đầu tư lớn, vay vốn kinh doanh và thiết kế sản phẩm "may đo" cho khách hàng lớn, cũng như tập trung ngân hàng số và bán lẻ.

Tín dụng tăng mạnh, lợi nhuận ngân hàng khả quan

Trong báo cáo đánh giá về bức tranh lợi nhuận quý I/2025, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá tín dụng bứt tốc ngay từ đầu năm góp phần giúp bức tranh lợi nhuận của ngành Ngân hàng trở nên khả quan hơn. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 16% do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao, hầu hết các ngân hàng đều đặt kế hoạch tăng trưởng tín dụng trên 15%.

Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2025 cao hơn so với mức tăng trưởng thực hiện trong năm 2024, chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc bao gồm: Vietcombank với mức tăng 16,28% so với năm 2024, MB tăng 26%, HDBank tăng khoảng 32% và VPBank tăng khoảng 20 - 25%.

Nhóm phân tích cho rằng, lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng theo dõi tăng khoảng 15% so với cùng kỳ, nhờ 3 yếu tố chính. Đó là tăng trưởng tín dụng toàn ngành khả quan hơn; biên lãi ròng giữ ổn định so với quý IV/2024, nhưng thấp hơn so với mức trung bình cả năm 2024 do các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay; chi phí trích lập dự phòng rủi ro giảm so với quý trước, tương đương cùng kỳ năm trước.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, trong quý đầu năm 2025, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 82.532,2 tỷ đồng, tăng 14,5% cùng kỳ; trong đó, có tới 22/27 ngân hàng giữ đà tăng trưởng.

Tuy vậy, trong kế hoạch tăng trưởng năm nay, phần lớn ngân hàng vẫn chưa phản ánh đầy đủ những rủi ro đến từ căng thẳng thương mại toàn cầu có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng, hoạt động xuất, nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhu cầu vốn của khối doanh nghiệp trong các quý tiếp theo. Tuyết Ánh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80