Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống tăng mạnh ngay từ quý đầu năm, đạt 3,93%, gấp 2,5 lần cùng kỳ và vẫn tiếp đà tăng trưởng tích cực, ước "bơm" ra nền kinh tế 600 nghìn tỷ đồng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh giữ vai trò dẫn dắt về quy mô, nhiều nhà băng nhỏ tăng tốc gần hoàn thành kế hoạch cả năm, tạo nên bức tranh phân hóa rõ nét trên đường đua tín dụng.
aa
Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tính đến hết quý I/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 3,93%, gấp 2,5 lần so với mức 1,42% của cùng kỳ. Với dư nợ cuối năm 2024 đạt gần 15,6 triệu tỷ đồng, như vậy, chỉ trong quý đầu năm, dư nợ tín dụng đạt 16,2 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng 600 nghìn tỷ đồng.

Có nhà băng tăng trên 10%

Thống kê của phóng viên từ 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý I/2025 cũng cho thấy, tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng có mức tăng tương ứng 3,8%, đạt hơn 12,3 triệu tỷ đồng. Trong số đó, có tới 25/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay khách hàng, chỉ riêng ABBank và Saigonbank sụt giảm so với cuối năm 2024.

Khối ngân hàng quốc doanh duy trì vị thế đầu tàu

Trong quý I/2025, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, VietinBank và Vietcombank tiếp tục thể hiện vai trò chủ lực, chiếm quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống. Trong đó, BIDV đứng đầu với hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 2,5% so với cuối năm 2024. VietinBank có mức tăng khá cao ở nhóm này, đạt 4,6%, trong khi Vietcombank tăng nhẹ 1,2%.

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất kìm giữ ở mức thấp, áp lực tăng tín dụng lớn, các ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân chủ động đẩy mạnh hoạt động cho vay ngay từ đầu năm. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là KienlongBank, lên tới 10,6%. Theo sau là nhóm các ngân hàng tăng 9 - 10%, trong đó phần lớn các ngân hàng có quy mô nhỏ, có thể kể đến như: NCB (9,6%), PGBank (9,4%), Eximbank (9,2%) và SHB (9,2%).

Thuộc top 10 các ngân hàng tăng trưởng cho vay khách hàng nhanh nhất toàn hệ thống còn có: MSB (tăng 7,9%); LPBank (6,2%); Nam A Bank (6%). Hai ngân hàng tư nhân quy mô lớn như: VPBank và Techcombank bám đuổi sát nút, với tốc độ tăng đáng kể chỉ sau quý đầu, lần lượt 5,4% và 5,1%.

Ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận dư nợ suy giảm như Saigonbank (giảm 4,3%) và ABBank (giảm 0,7%), cho thấy có thể các nhà băng đang trong giai đoạn tái cơ cấu danh mục tín dụng hoặc thận trọng hơn trong việc mở rộng cho vay.

Tiếp đà tăng trưởng tích cực, tính đến ngày 15/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,23 triệu tỷ đồng, tăng 3,95% so với cuối năm 2024 và tăng 18,19% cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024, dư nợ tín dụng tăng 1,21% so với tháng 12/2023), theo báo cáo cập nhật của NHNN. Tín dụng tiếp tục hướng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo.

Những lối đi riêng

Là ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng lớn nhất toàn hệ thống và cũng là nhà băng duy nhất vượt mốc 2 triệu tỷ đồng dư nợ, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo hạn mức NHNN giao, dự kiến ở mức 16%. Tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, BIDV thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ lên gần 91.870 tỷ đồng. Phần vốn điều lệ tăng thêm sẽ được sử dụng toàn bộ để bổ sung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh, với trọng tâm là mở rộng tín dụng.

Theo đó, BIDV sẽ phân bổ nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng ưu tiên các lĩnh vực trọng yếu như doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, cũng như đẩy mạnh tín dụng xanh và tín dụng bán lẻ. Đây là những định hướng chiến lược nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng bền vững, vừa đảm bảo hiệu quả trong quản lý rủi ro tín dụng.

Phát biểu gần đây, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản khoảng 10% trong năm 2025, tiệm cận 2,3 triệu tỷ đồng, với tăng trưởng tín dụng tối đa 16,28%, phù hợp với định hướng NHNN giao.

Trong năm 2025, Vietcombank có 3 động lực chính thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đó là giải ngân đầu tư công và dòng vốn FDI, đặc biệt tại các dự án trọng điểm như sân bay Long Thành, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; đẩy mạnh bán lẻ và hưởng lợi từ ưu đãi khi nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Ngay trong quý I/2025, ngân hàng ký kết nhiều hợp đồng tín dụng lớn, tạo nền tảng thuận lợi để hiện thực hóa các chỉ tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Với các nhà băng quy mô nhỏ, KienlongBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15,57% năm 2025, nâng dư nợ cấp tín dụng từ 61.432 tỷ đồng lên 71.000 tỷ đồng. Với tốc độ tăng lên tới 10,6% chỉ sau quý đầu năm, ngân hàng này hoàn thành 2/3 kế hoạch cả năm.

Chia sẻ định hướng phát triển tín dụng năm nay, theo ông Trần Hồng Minh - quyền Tổng Giám đốc KienlongBank, ngân hàng sẽ tập trung phát triển tín dụng theo 3 nhóm khách hàng mục tiêu. Đó là nhóm khách hàng khu vực nông thôn, vốn là tệp khách hàng truyền thống của KienlongBank, ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng và thanh toán không tiền mặt; nhóm khách hàng trẻ thành thị tập trung cho vay tiêu dùng, phát triển phân khúc khách hàng ưu tiên; nhóm khách hàng kênh số triển khai sản phẩm tín dụng trực tuyến, dịch vụ số tích hợp.

"Với 3 định hướng này KienlongBank hy vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng tín dụng và có một số điểm mới, tệp khách hàng mới trong 2025" - ông Minh mong đợi.

Còn với NCB, ngân hàng có bước khởi đầu tích cực 9,6% chỉ trong quý I/2025 và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cho vay khách hàng 30%, lên 92.528 tỷ đồng. NCB định hướng trọng tâm là ngân hàng bán lẻ, phát triển mảng ngân hàng số và dịch vụ quản lý tài sản số (digital wealth). Ngân hàng năm nay tiếp tục đẩy mạnh cho vay mua nhà tại các dự án do các chủ đầu tư lớn, vay vốn kinh doanh và thiết kế sản phẩm "may đo" cho khách hàng lớn, cũng như tập trung ngân hàng số và bán lẻ.

Tín dụng tăng mạnh, lợi nhuận ngân hàng khả quan

Trong báo cáo đánh giá về bức tranh lợi nhuận quý I/2025, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá tín dụng bứt tốc ngay từ đầu năm góp phần giúp bức tranh lợi nhuận của ngành Ngân hàng trở nên khả quan hơn. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 16% do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao, hầu hết các ngân hàng đều đặt kế hoạch tăng trưởng tín dụng trên 15%.

Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2025 cao hơn so với mức tăng trưởng thực hiện trong năm 2024, chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc bao gồm: Vietcombank với mức tăng 16,28% so với năm 2024, MB tăng 26%, HDBank tăng khoảng 32% và VPBank tăng khoảng 20 - 25%.

Nhóm phân tích cho rằng, lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng theo dõi tăng khoảng 15% so với cùng kỳ, nhờ 3 yếu tố chính. Đó là tăng trưởng tín dụng toàn ngành khả quan hơn; biên lãi ròng giữ ổn định so với quý IV/2024, nhưng thấp hơn so với mức trung bình cả năm 2024 do các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay; chi phí trích lập dự phòng rủi ro giảm so với quý trước, tương đương cùng kỳ năm trước.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, trong quý đầu năm 2025, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 82.532,2 tỷ đồng, tăng 14,5% cùng kỳ; trong đó, có tới 22/27 ngân hàng giữ đà tăng trưởng.

Tuy vậy, trong kế hoạch tăng trưởng năm nay, phần lớn ngân hàng vẫn chưa phản ánh đầy đủ những rủi ro đến từ căng thẳng thương mại toàn cầu có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng, hoạt động xuất, nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhu cầu vốn của khối doanh nghiệp trong các quý tiếp theo. Tuyết Ánh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,100 148,500
Hà Nội - PNJ 145,100 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,100 148,500
Miền Tây - PNJ 145,100 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,100 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,100 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 14,860
Miếng SJC Nghệ An 14,560 14,860
Miếng SJC Thái Bình 14,560 14,860
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,560 14,910
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,220 14,820
Trang sức 99.99 14,230 14,830
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 14,862
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 14,863
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,451 1,481
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,451 1,482
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,426 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,644 145,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,686 110,486
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,388 100,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,009 8,989
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,118 85,918
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,697 61,497
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cập nhật: 05/09/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18226 18501 19078
CAD 18339 18615 19235
CHF 31549 31929 32585
CNY 0 3840 3936
EUR 29649 29870 30951
GBP 34447 34839 35790
HKD 0 3193 3395
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15004 15595
SGD 20023 20306 20876
THB 707 770 823
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Cập nhật: 05/09/2026 05:30
Ngân hàng