Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống tăng mạnh ngay từ quý đầu năm, đạt 3,93%, gấp 2,5 lần cùng kỳ và vẫn tiếp đà tăng trưởng tích cực, ước "bơm" ra nền kinh tế 600 nghìn tỷ đồng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh giữ vai trò dẫn dắt về quy mô, nhiều nhà băng nhỏ tăng tốc gần hoàn thành kế hoạch cả năm, tạo nên bức tranh phân hóa rõ nét trên đường đua tín dụng.
aa
Tín dụng vào guồng từ đầu năm, mỗi ngân hàng chọn lối đi riêng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tính đến hết quý I/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 3,93%, gấp 2,5 lần so với mức 1,42% của cùng kỳ. Với dư nợ cuối năm 2024 đạt gần 15,6 triệu tỷ đồng, như vậy, chỉ trong quý đầu năm, dư nợ tín dụng đạt 16,2 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng 600 nghìn tỷ đồng.

Có nhà băng tăng trên 10%

Thống kê của phóng viên từ 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý I/2025 cũng cho thấy, tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng có mức tăng tương ứng 3,8%, đạt hơn 12,3 triệu tỷ đồng. Trong số đó, có tới 25/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay khách hàng, chỉ riêng ABBank và Saigonbank sụt giảm so với cuối năm 2024.

Khối ngân hàng quốc doanh duy trì vị thế đầu tàu

Trong quý I/2025, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, VietinBank và Vietcombank tiếp tục thể hiện vai trò chủ lực, chiếm quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống. Trong đó, BIDV đứng đầu với hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 2,5% so với cuối năm 2024. VietinBank có mức tăng khá cao ở nhóm này, đạt 4,6%, trong khi Vietcombank tăng nhẹ 1,2%.

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất kìm giữ ở mức thấp, áp lực tăng tín dụng lớn, các ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân chủ động đẩy mạnh hoạt động cho vay ngay từ đầu năm. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là KienlongBank, lên tới 10,6%. Theo sau là nhóm các ngân hàng tăng 9 - 10%, trong đó phần lớn các ngân hàng có quy mô nhỏ, có thể kể đến như: NCB (9,6%), PGBank (9,4%), Eximbank (9,2%) và SHB (9,2%).

Thuộc top 10 các ngân hàng tăng trưởng cho vay khách hàng nhanh nhất toàn hệ thống còn có: MSB (tăng 7,9%); LPBank (6,2%); Nam A Bank (6%). Hai ngân hàng tư nhân quy mô lớn như: VPBank và Techcombank bám đuổi sát nút, với tốc độ tăng đáng kể chỉ sau quý đầu, lần lượt 5,4% và 5,1%.

Ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận dư nợ suy giảm như Saigonbank (giảm 4,3%) và ABBank (giảm 0,7%), cho thấy có thể các nhà băng đang trong giai đoạn tái cơ cấu danh mục tín dụng hoặc thận trọng hơn trong việc mở rộng cho vay.

Tiếp đà tăng trưởng tích cực, tính đến ngày 15/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,23 triệu tỷ đồng, tăng 3,95% so với cuối năm 2024 và tăng 18,19% cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024, dư nợ tín dụng tăng 1,21% so với tháng 12/2023), theo báo cáo cập nhật của NHNN. Tín dụng tiếp tục hướng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo.

Những lối đi riêng

Là ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng lớn nhất toàn hệ thống và cũng là nhà băng duy nhất vượt mốc 2 triệu tỷ đồng dư nợ, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo hạn mức NHNN giao, dự kiến ở mức 16%. Tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, BIDV thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ lên gần 91.870 tỷ đồng. Phần vốn điều lệ tăng thêm sẽ được sử dụng toàn bộ để bổ sung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh, với trọng tâm là mở rộng tín dụng.

Theo đó, BIDV sẽ phân bổ nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng ưu tiên các lĩnh vực trọng yếu như doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, cũng như đẩy mạnh tín dụng xanh và tín dụng bán lẻ. Đây là những định hướng chiến lược nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng bền vững, vừa đảm bảo hiệu quả trong quản lý rủi ro tín dụng.

Phát biểu gần đây, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản khoảng 10% trong năm 2025, tiệm cận 2,3 triệu tỷ đồng, với tăng trưởng tín dụng tối đa 16,28%, phù hợp với định hướng NHNN giao.

Trong năm 2025, Vietcombank có 3 động lực chính thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đó là giải ngân đầu tư công và dòng vốn FDI, đặc biệt tại các dự án trọng điểm như sân bay Long Thành, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; đẩy mạnh bán lẻ và hưởng lợi từ ưu đãi khi nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Ngay trong quý I/2025, ngân hàng ký kết nhiều hợp đồng tín dụng lớn, tạo nền tảng thuận lợi để hiện thực hóa các chỉ tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Với các nhà băng quy mô nhỏ, KienlongBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15,57% năm 2025, nâng dư nợ cấp tín dụng từ 61.432 tỷ đồng lên 71.000 tỷ đồng. Với tốc độ tăng lên tới 10,6% chỉ sau quý đầu năm, ngân hàng này hoàn thành 2/3 kế hoạch cả năm.

Chia sẻ định hướng phát triển tín dụng năm nay, theo ông Trần Hồng Minh - quyền Tổng Giám đốc KienlongBank, ngân hàng sẽ tập trung phát triển tín dụng theo 3 nhóm khách hàng mục tiêu. Đó là nhóm khách hàng khu vực nông thôn, vốn là tệp khách hàng truyền thống của KienlongBank, ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng và thanh toán không tiền mặt; nhóm khách hàng trẻ thành thị tập trung cho vay tiêu dùng, phát triển phân khúc khách hàng ưu tiên; nhóm khách hàng kênh số triển khai sản phẩm tín dụng trực tuyến, dịch vụ số tích hợp.

"Với 3 định hướng này KienlongBank hy vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng tín dụng và có một số điểm mới, tệp khách hàng mới trong 2025" - ông Minh mong đợi.

Còn với NCB, ngân hàng có bước khởi đầu tích cực 9,6% chỉ trong quý I/2025 và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cho vay khách hàng 30%, lên 92.528 tỷ đồng. NCB định hướng trọng tâm là ngân hàng bán lẻ, phát triển mảng ngân hàng số và dịch vụ quản lý tài sản số (digital wealth). Ngân hàng năm nay tiếp tục đẩy mạnh cho vay mua nhà tại các dự án do các chủ đầu tư lớn, vay vốn kinh doanh và thiết kế sản phẩm "may đo" cho khách hàng lớn, cũng như tập trung ngân hàng số và bán lẻ.

Tín dụng tăng mạnh, lợi nhuận ngân hàng khả quan

Trong báo cáo đánh giá về bức tranh lợi nhuận quý I/2025, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá tín dụng bứt tốc ngay từ đầu năm góp phần giúp bức tranh lợi nhuận của ngành Ngân hàng trở nên khả quan hơn. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 16% do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao, hầu hết các ngân hàng đều đặt kế hoạch tăng trưởng tín dụng trên 15%.

Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2025 cao hơn so với mức tăng trưởng thực hiện trong năm 2024, chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc bao gồm: Vietcombank với mức tăng 16,28% so với năm 2024, MB tăng 26%, HDBank tăng khoảng 32% và VPBank tăng khoảng 20 - 25%.

Nhóm phân tích cho rằng, lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng theo dõi tăng khoảng 15% so với cùng kỳ, nhờ 3 yếu tố chính. Đó là tăng trưởng tín dụng toàn ngành khả quan hơn; biên lãi ròng giữ ổn định so với quý IV/2024, nhưng thấp hơn so với mức trung bình cả năm 2024 do các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay; chi phí trích lập dự phòng rủi ro giảm so với quý trước, tương đương cùng kỳ năm trước.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, trong quý đầu năm 2025, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 82.532,2 tỷ đồng, tăng 14,5% cùng kỳ; trong đó, có tới 22/27 ngân hàng giữ đà tăng trưởng.

Tuy vậy, trong kế hoạch tăng trưởng năm nay, phần lớn ngân hàng vẫn chưa phản ánh đầy đủ những rủi ro đến từ căng thẳng thương mại toàn cầu có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng, hoạt động xuất, nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhu cầu vốn của khối doanh nghiệp trong các quý tiếp theo. Tuyết Ánh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼137000K -142,000 ▼142000K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲13650K 14,150 ▲14150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲13580K 14,130 ▲14130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.99 13,000 ▲120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲70K
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1291K 14,642 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1291K 14,643 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▲4K 1,454 ▲1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▲4K 1,455 ▲4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▲4K 1,434 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼121086K 14,198 ▼127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▲300K 107,711 ▲300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▲86996K 97,672 ▲96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲244K 87,633 ▲244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▲234K 83,761 ▲234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▲167K 59,954 ▲167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cập nhật: 21/07/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17943 18217 18793
CAD 18189 18465 19084
CHF 31845 32226 32875
CNY 0 3850 3943
EUR 29431 29651 30735
GBP 34513 34905 35846
HKD 0 3226 3429
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15101 15686
SGD 19866 20148 20718
THB 697 761 814
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26507
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,558 29,582 30,990
JPY 157.49 157.77 167.27
GBP 34,753 34,847 36,049
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,367 18,426 19,105
CHF 32,119 32,219 33,166
SGD 19,983 20,045 20,836
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.45 17.16 18.66
THB 746.45 755.67 808.97
NZD 15,085 15,225 15,677
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,682 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.91 - 6,791.83
TWD 735.79 - 891.27
SAR - 6,890.37 7,257.18
KWD - 83,228 88,546
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18138 18238 19161
CAD 18377 18477 19489
CHF 32100 32130 33708
CNY 3830.8 3855.8 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29621 29651 31374
GBP 34844 34894 36649
HKD 0 3355 0
JPY 158.31 158.81 169.33
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15226 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20025 20155 20883
THB 0 727.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,510
USD20 26,146 26,196 26,510
USD1 26,146 26,196 26,510
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,406 29,506 31,164
CAD 18,308 18,408 19,714
SGD 20,095 20,245 20,810
JPY 158.75 160.25 165.78
GBP 34,745 34,895 35,957
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80