Tỷ giá giảm trong ngắn hạn, nhưng chưa hết lo về trung hạn

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến tỷ giá thời gian gần đây tỏ ra khá yên ả, có chiều hướng điểm giảm nhẹ. Tuy nhiên, những yếu tố có thể tác động làm tỷ giá tăng nhiệt trở lại vẫn còn tiềm ẩn. Đặc biệt, bối cảnh thị trường tài chính quốc tế gần đây cũng đang là một trong những mối lo ngại với tỷ giá thời gian tới.
aa

Tỷ giá hỗ trợ lãi suất

Thời gian qua, diễn biến tỷ giá khá ổn định, thậm chí có những giai đoạn có chiều hướng đi xuống. Cụ thể trong giai đoạn chuyển giao giữa tháng 2 và tháng 3, tỷ giá USD trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) giảm nhẹ từ mức 23.642 đồng/USD vào hôm 27/2, xuống mức 23.637 đồng/USD vào hôm 3/3. Trong những ngày tiếp theo, tỷ giá USD trung tâm có những phiên tăng, giảm, nhưng không có sự biến động quá lớn. Tính đến ngày 10/3 ghi nhận mức 23.639 đồng/USD, chỉ tăng nhẹ 2 đồng/ USD so với trước đó 1 tuần.

Thời gian qua, diễn biến tỷ giá khá ổn định, thậm chí có những giai đoạn có chiều hướng đi xuống.
Thời gian qua, diễn biến tỷ giá khá ổn định, thậm chí có những giai đoạn có chiều hướng đi xuống.

Tại ngân hàng thương mại, biên độ tỷ giá được thay đổi hàng ngày thường lớn hơn so với các mức điều chỉnh tỷ giá trung tâm của NHNN, tuy nhiên, diễn biến chung cho thấy xu hướng ổn định và giảm nhẹ. Tính đến sáng ngày 10/3, tỷ giá do Vietcombank công bố ở mức 23.490/23.520/23.860 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra), giảm khoảng 20 đồng/USD so với thời điểm trước đó 1 tuần. Đáng chú ý là trong tuần trước đó, tỷ giá USD theo công bố tại Vietcombank cũng đã có một giai đoạn đi xuống với mức giảm khoảng 110 đồng/USD trong tuần chuyển giao giữa tháng 2 và 3.

Diễn biến ổn định, thậm chí có xu hướng giảm nhẹ của tỷ giá đã là yếu tố thuận lợi cho các ngân hàng hiện thực hóa mục tiêu đưa mặt bằng lãi suất đi xuống. Điều này đã được thể hiện ở hành động giảm lãi suất được các ngân hàng công bố cách đây ít ngày.

Cụ thể là từ hôm 6/3 vừa qua, các ngân hàng thương mại đã đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi. Trong đó, 4 ngân hàng thương mại nhà nước (BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank) giảm 0,2%/năm so với mức lãi suất niêm yết của từng ngân hàng với nhóm kỳ hạn từ 6 - 12 tháng. Các ngân hàng thương mại cổ phần giảm

0,5%/năm so với mức lãi suất của từng ngân hàng đối với nhóm kỳ hạn từ 6 - 12 tháng. NHNN cho biết, việc đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi sẽ giúp các ngân hàng thương mại giảm chi phí, qua đó có điều kiện để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Ẩn số vẫn còn phía trước

Mặc dù diễn biến tỷ giá tại thời điểm này vẫn cho thấy xu hướng khá bình ổn, nhưng những yếu tố tiềm ẩn ảnh hưởng đến tỷ giá trong giai đoạn tới có thể sẽ xuất hiện.

Một trong những động thái đáng chú ý có thể tác động đến tỷ giá trong nước là những tuyên bố mới đây từ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) với các dữ liệu mới về lạm phát và thị trường việc làm cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn còn phát triển nóng. Điều này có thể buộc FED phải áp dụng chính sách lãi suất mạnh tay hơn. Hiện nay, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế vẫn đang dõi theo các tín hiệu về kinh tế vĩ mô để phán đoán các hành động chính thức từ FED.

Theo đó, các dữ liệu về việc làm, lạm phát dự kiến công bố sắp tới sẽ là cơ sở quan trọng để FED cân nhắc việc có tăng mạnh lãi suất hay không. Tuy nhiên, với các phát biểu gần đây của những người có thẩm quyền từ FED thì nhiều dự đoán trong giới tài chính quốc tế đưa ra nghiêng nhiều hơn về khả năng FED có thể tăng 0,5 điểm phần trăm tại cuộc họp diễn ra sắp tới. Đây là kịch bản có mức tăng lãi suất mạnh hơn so với kịch bản chỉ tăng 0,25% so với dự báo tại thời điểm đầu năm 2023.

Theo TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, nếu FED thực hiện lộ trình tăng lãi suất mạnh tay hơn so với dự báo trước kia thì đó sẽ là yếu tố tác động rất lớn với thị trường tài chính và chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian tới.

Hiện tại, NHNN vẫn đang tiếp tục kiên trì mục tiêu đưa lãi suất xuống thấp hơn nữa, nhưng vẫn theo dõi sát diễn biến tiền tệ trong nước, quốc tế, dự báo lạm phát và lãi suất thị trường để điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Áp lực đối với chính sách tiền tệ trong nước sẽ nằm ở chỗ, nếu FED tiếp tục mạnh tay tăng lãi suất thì sẽ khiến đồng USD tăng giá so với đồng tiền khác trên thế giới, bao gồm cả đồng VND của Việt Nam.

Thông thường sau khi FED tăng lãi suất, các nền kinh tế nếu muốn bảo vệ giá trị đồng tiền bản địa cũng phải thực hiện tăng lãi suất theo và điều này sẽ là một áp lực không nhỏ, đi ngược với mong muốn tiếp tục giảm lãi suất của các ngân hàng Việt Nam.

Lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt, nhưng vẫn cao

Gần đây, lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã hạ nhiệt hơn so với thời điểm đầu tháng 3. Cụ thể, lãi suất qua đêm đang ở mức 5,98%, đã giảm thấp hơn so với mức 6,38% tại thời điểm đầu tháng 3. Một số kỳ hạn khác cũng hạ nhiệt phần nào, với kỳ hạn 1 tuần là 6,17% (đầu tháng 3 là 6,48%).

Diễn biến trên cho thấy lãi suất liên ngân hàng đã giảm, nhưng vẫn cao hơn khá nhiều so với mặt bằng lãi suất giai đoạn giữa tháng 2. Cụ thể, lãi suất qua đêm ghi nhận hôm 15/2 chỉ là 3,64%. Thời điểm đó, các mức lãi suất các kỳ hạn khác cũng khá thấp với lãi suất 1 tuần là 4,05%; kỳ hạn 2 tuần là 3,64%; kỳ hạn 1 tháng là 5,68%; kỳ hạn 3 tháng là 7,83%...

Chí Tín

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 27/09/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 27/09/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30