Vàng và USD cùng dắt nhau lên giá

Đỗ Minh
Trong phiên giao dịch đầu tuần mới, giá vàng và tỷ giá VND/USD cùng tăng lên khá mạnh. Trong đó, giá vàng SJC đang tăng lên khoảng 130 ngàn đồng/lượng, giá vàng thế giới tăng hơn 9 USD/ounce, còn tỷ giá VND/USD đang tăng lên đến mức 22.500 đồng/USD.
aa

ty gia vang

Tỷ giá VND/USD liên tục điều chỉnh đi lên

Trong buổi sáng phiên giao dịch đầu tuần (16/11), tỷ giá VND/USD ở các ngân hàng đã hầu hết điều chỉnh tăng lên khoảng giá 22.470 đến 22.480 đồng/USD (ở chiều bán ra). Nhưng đến đầu giờ chiều 16/11, hầu hết các ngân hàng đã tiếp tục điều chỉnh tăng lên đến xung quanh mức 22.500 đồng/USD.

Cụ thể, tại thời điểm 15 giờ 34 phút chiều 16/11, ngân hàng Vietcombank đang niêm yết tỷ giá VND/USD tại mức 22.415 – 22.495 đồng/USD (giá mua vào – bán ra), tăng thêm 25 đồng/USD so với đầu giờ sáng và tăng 35 đồng/USD (ở cả hai chiều mua vào – bán ra) so với cuối tuần trước.

Cùng thời điểm trên, ngân hàng BIDV niêm yết ở mức 22.420 – 22.490 đồng/USD; VietinBank niêm yết ở mức 22.420 – 22.480 đồng/USD.

Các ngân hàng thương mại khác cũng đã liên tục điều chỉnh và tại thời điểm trên các ngân hàng ACB, Eximbank, VIB, Techcombank… đã đưa tỷ giá VND/USD đồng loạt đứng ở mức 22.500 đồng/USD ở chiều bán ra. Cụ thể, ACB, VIB, Sacombank cùng có mức niêm yết là 22.410 – 22.500 đồng/USD; Techcombank niêm yết ở mức 22.350 – 22.500 đồng/USD; TPBank niêm yết ở mức 22.390 – 22.480 đồng/USD; SHB niêm yết tại mức 22.375 – 22.460 đồng/USD; HSBC niêm yết ở mức 22.390 – 22.490 đồng/USD.

Diễn biến tỷ giá VND/USD đang diễn ra khá nhanh và bất ngờ. Trong tuần trước, dù tỷ giá đã có sự chuyển dịch linh hoạt hơn so với tuần trước đó, nhưng cũng chỉ xoay quanh mức 22.450 đồng/USD. Tuy nhiên, bước qua đầu tuần mới, phần lớn các ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tăng lên ở mức 22.500 đồng/USD ở chiều bán ra.

Mức tỷ giá VND/USD hiện nay đã tăng lên khoảng 140 đồng/USD ở chiều bán ra so với thời điểm đầu tháng 11 và đã lại tiếp tục chạm vào khoảng giá gây áp lực trên tỷ giá, bởi trần tỷ giá cho phép hiện cũng chỉ còn cách có 70 đồng/USD – tức là chỉ bằng một nửa mức tăng trong 15 ngày qua.

Đây cũng là mức tỷ giá đáng lo ngại, bởi vào dịp cuối năm nhu cầu USD thường sẽ tăng hơn so với các tháng giữa năm, trong khi đó Ngân hàng Nhà nước đã phát đi cam kết sẽ không tăng tỷ giá lên nữa trong từ nay đến cuối năm 2015, thậm chí sẽ giữ ổn định đến sang đầu năm 2016.

Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có động thái gì khác trong chính sách tỷ giá và mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng công bố ngày 16/11 là 1 USD = 21.890 đồng, còn Sở Giao dịch NHNN công bố tỷ giá VND/USD ở mức khá ổn định lâu nay là 21.800 – 22.475 đồng/USD (mua vào – bán ra).

Giá vàng quay đầu tăng lên

Giá vàng trong nước và thế giới sau nửa tháng chủ yếu diễn biến đi xuống, thậm chí có thời điểm giảm xuống dưới mức giá thấp nhất trong vòng 5 năm qua. Tuy nhiên, bước sang phiên giao dịch đầu tuần mới, cả giá vàng trong nước và thế giới đã thay đồi chiều hướng và tăng lên khá mạnh.

Tại thời điểm 16 giờ chiều ngày 16/11, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giao dịch trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đã tăng lên mức 33,26 – 33,49 triệu đồng/lượng, còn ở Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 33,26 – 33,51 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Cùng thời điểm trên, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá của Tập đoàn DOJI áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh có cùng mức giá bán ra là 33,45 triệu đồng/lượng, giá mua lẻ là 33,38 triệu đồng/lượng và giá mua buôn là 33,39 triệu đồng/lượng. Còn tại thị trường Hà Nội, giá mua vào – bán ra ở giao dịch lẻ là 33,40 – 33,46 triệu đồng/lượng và giao dịch buôn là 33,39 – 33,45 triệu đồng/lượng.

Mức giá này hiện tăng lên 130 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa cuối tuần trước. Trong khi đó, cả tuần trước giá vàng SJC đã để sụt giảm 80 ngàn đồng/lượng và tính trong 2 tuần qua, giá vàng SJC đã bị sụt giảm trong 300 ngàn đồng/lượng.

vang sjc
Giá vàng SJC mặc dù quay đầu tăng lên khá mạnh trong phiên đầu tuần, nhưng vẫn để mất trong 300 ngàn đồng/lượng trong nửa đầu tháng 11. Nguồn: sjc.com.vn

Còn trên thị trường thế giới, giá vàng đã để sụt giảm một mạch khá dài từ mức 1.140 USD/ounce ở đầu tháng 11 đã sụt giảm về ở mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua khi đứng tại mức 1.083 USD/ounce ở thời điểm đóng cửa tuần qua. Trong cuối tuần qua, có thời điểm giá vàng thế giới đã giảm xuống mức đáy hơn 5 năm qua khi giảm xuống tận dưới 1.075 USD/ounce.

Tuy nhiên, bước sang đầu tuần mới, giá vàng đã bật tăng lên khá mạnh và hiện tại đang đứng ở mức 1.092,18 USD/ounce. Tăng hơn 9 USD/ounce so với mức giá đóng cửa tuần qua.

Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới hiện tương đương khoảng 29,59 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh của Công ty Vàng bạc Đá quí Sài Gòn khoảng 3,9 triệu đồng/lượng./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 4.500 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 28% so với năm 2025, tăng trưởng tín dụng 9%, nợ xấu kiểm soát dưới 1,5% cùng kế hoạch tăng vốn lên 20.000 tỷ đồng và chuẩn bị chuyển sàn sang HOSE. Lãnh đạo ABBank nhấn mạnh động lực tăng trưởng từ nguồn “lương khô” xử lý nợ xấu và phát triển các nguồn thu mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80