Vietbank hoàn thành tăng vốn điều lệ và thông qua kế hoạch chia cổ tức 25%

(TBTCO) - Ngày 26/4/2024, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank - VBB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên bằng hình thức trực tuyến. Năm 2024, Vietbank hướng đến mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế đạt 29% và kiểm soát nợ xấu ở mức dưới hoặc bằng 2,5%.
aa
Vietbank hoàn thành tăng vốn điều lệ và thông qua kế hoạch chia cổ tức 25%
Đại hội đồng cổ đông của Vietbank diễn ra sáng ngày 26/4, tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2023 hoàn thành mục tiêu giữ vững an toàn hoạt động, kinh doanh hiệu quả

Nền kinh tế và ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2023 đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách nhưng Vietbank vẫn có mức tăng trưởng ấn tượng. Các thành quả của năm 2023 thể hiện rõ ở kết quả kinh doanh với những con số tích cực được báo cáo trong đại hội.

Tổng tài sản của Vietbank đạt 138.258 tỷ đồng, hoàn thành 111% kế hoạch. Trong đó, tổng dư nợ cấp tín dụng chiếm 58% trong tổng tài sản.

Cấu trúc danh mục tài sản tiếp tục được cơ cấu theo hướng gia tăng tỷ trọng tài sản có sinh lời và luôn duy trì ở mức trên 95%.

Tổng dư nợ cấp tín dụng đạt 80.754 tỷ đồng, tăng 19,6% so với năm 2022, hoàn thành chỉ tiêu được giao và cao hơn mức tín dụng trung bình toàn hệ thống.

Công tác cảnh báo rủi ro, thẩm định được nâng cao, quản lý và giám sát chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay và kiểm soát chất lượng tài sản cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của Vietbank.

Nhờ đó, chất lượng tín dụng của Vietbank luôn duy trì ở mức tốt, tỷ lệ nợ xấu tại ngày 31/12/2023 của Vietbank, theo Thông tư 11 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), chỉ 1,79%, thấp hơn mức trung bình của toàn hệ thống ngân hàng ghi nhận tại thời điểm quý IV/2023.

Quy mô huy động vốn đạt 101.547 tỷ đồng, tăng 25,2% so với năm 2022, hoàn thành vượt kế hoạch đề ra. Vietbank đa dạng hóa nguồn vốn huy động, đảm bảo tính ổn định, an toàn thanh khoản, góp phần cải thiện chi phí vốn ở mức hợp lý và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng bền vững.

Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Vietbank năm 2023 sau kiểm toán đạt 812 tỷ đồng, hoàn thành 84,6% kế hoạch do hội đồng quản trị (HĐQT) giao, tăng trưởng 23,8% so với năm 2022.

Theo chia sẻ của lãnh đạo Vietbank, ngân hàng đã chủ động cắt giảm lợi nhuận cũng như cắt giảm lãi suất để đồng hành và san sẻ khó khăn với thị trường nói chung và khách hàng nói riêng trong suốt năm 2023.

Năm 2024, Vietbank đặt mục tiêu phấn đấu lợi nhuận trước thuế 1.050 tỷ đồng, tăng 29% so với năm ngoái; tổng tài sản đạt 150.000 tỷ đồng, huy động đến từ khách hàng (bao gồm giấy tờ có giá) đạt 116.000 tỷ đồng, cho vay khách hàng đạt 95.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng đặt mục tiêu mở rộng thị phần, tăng trưởng quy mô tổng tài sản cả về chất và lượng, kiểm soát nợ xấu dưới hoặc bằng 2,5% theo quy định của NHNN (mức quy định NHNN là 3%).

Vietbank hoàn thành tăng vốn điều lệ và thông qua kế hoạch chia cổ tức 25%
Các mục tiêu Vietbank đặt ra trong năm 2024

2024 thiết lập kế hoạch kinh doanh thực tế và thận trọng

So với mục tiêu đã đặt ra trong ĐHCĐ năm 2023, mục tiêu tăng trưởng năm 2024 được xây dựng thực tế và thận trọng. Kế hoạch kinh doanh năm 2024 của Vietbank đặt mục tiêu tăng lợi nhuận trước thuế tối thiểu 17% (theo kế hoạch cơ sở) và tối đa là 29% (theo kế hoạch phấn đấu), chỉ bằng 63% mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra vào năm 2023 là 46%.

Bên cạnh đó, các chỉ số về tổng tài sản, huy động tiền gửi của khách hàng cũng hướng tới tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn so với chỉ số đã được thông qua tại kỳ ĐHCĐ trước.

Tỷ lệ tăng trưởng mục tiêu tổng giá trị tài sản giảm từ 12% xuống 8%; tỷ lệ tăng trưởng huy động theo mục tiêu 2023 là 17% giảm xuống 14% theo kế hoạch 2024.

Việc đặt kế hoạch kinh doanh thực tế và thận trọng giúp phản ánh đúng tình trạng của hoạt động kinh doanh, đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của khách hàng với lợi nhuận của tổ chức.

Trước đó, vào năm 2023 Vietbank cũng là một trong những ngân hàng đầu tiên được NHNN phê duyệt phương án cơ cấu lại hoạt động giai đoạn 2021-2025. Đây là tín hiệu tích cực trong công tác hoạt động và tính tuân thủ đối với các quy định của NHNN.

Theo công văn của NHNN về phương án cơ cấu lại hoạt động gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, NHNN không có yêu cầu gì thêm, đồng thời giao Vietbank chủ động tổ chức triển khai phương án và báo cáo định kỳ kết quả cho NHNN.

Nhờ sự chủ động và tích cực trong việc kiểm soát nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu của Vietbank luôn được kiểm soát ở mức thấp so với quy định của NHNN (<3%).

Đặc biệt, năm 2023 Vietbank ghi nhận nợ xấu chỉ 1,79%, giảm 0,68% so với kết quả 2022 và thấp hơn mức trung bình toàn ngành 1,93% tại thời điểm quý IV/2023. Việc liên tục duy trì nợ xấu dưới mức trần giúp Vietbank nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, giải phóng chi phí trích lập dự phòng, từ đó tái đầu tư vào các hoạt động ngân hàng.

Với 99,99% tán thành trong đại hội, Vietbank chính thức thông qua quyết định chia cổ tức năm 2024 với tỷ lệ 25%, với hình thức chi trả bằng cổ phiếu. Đây là mức chi trả cao so với mặt bằng chung thị trường cổ tức năm nay khi nền kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc rõ nét.

Tỷ lệ chi trả cổ tức của Vietbank sẽ được ghi nhận trên vốn điều lệ mới sau khi hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ được thông qua tại ĐHCĐ 2023, dự kiến theo kế hoạch là 5.780 tỷ đồng. Như vậy, dự kiến tổng số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường sau khi hoàn thành kế hoạch sẽ đạt mức trên 713 triệu cổ phiếu.

Trước đó, vào năm 2019, Vietbank cũng đã chi trả cổ tức với tỷ lệ 14% cũng với hình thức chi trả bằng cổ phiếu. Việc liên tục chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của Vietbank là phù hợp với các quy định của NHNN trong Chỉ thị 01.2023.

Việc phân phối lợi nhuận và chi trả cổ tức của Vietbank trong năm 2024 sẽ giúp Vietbank tăng vốn điều lệ năm thứ 2 liên tiếp, đưa vốn điều lệ của ngân hàng lên mức 7.139 tỷ đồng.

Trước đó, tại ĐHCĐ năm 2023, Vietbank đã thông qua phương án tăng vốn điều lệ từ 4.777 tỷ đồng lên 5.780 tỷ đồng bằng hình thức chào bán 100,3 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 100:21, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tại ĐHCĐ 2024, Vietbank cũng đã báo cáo kết quả triển khai hồ sơ tăng vốn và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Theo đó, ngân hàng đã được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xác nhận kết quả chào bán. Như vậy, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, ngân hàng sẽ chạm mốc vốn điều lệ mới là 5.712 tỷ đồng. Việc tiếp tục tăng vốn điều lệ của Vietbank nằm trong lộ trình và kế hoạch trung, dài hạn, đây cũng là một trong các kế hoạch được NHNN chấp thuận trong phương án cơ cấu lại hoạt động.

Hướng tới năm kinh doanh 2024, Vietbank tiếp tục kiên định với định hướng trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam với chiến lược phát triển ổn định, bền vững, nâng cao chất lượng tài sản có sinh lời; tuân thủ theo các quy định của Nhà nước…
Mai Sơn

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80