Xử lý nợ xấu: Hạn chế đẩy rủi ro cho tương lai

Hoàng Yến
(TBTCO) - Nếu việc xử lý nợ xấu chỉ theo cách là khoanh, giãn, xóa… thì sẽ là đẩy rủi ro cho tương lai, bởi ngân hàng vẫn có lợi nhuận cao, nhưng nền kinh tế và người dân gánh chịu rủi ro và thiệt hại về lâu dài khi nguồn lực bị mất đi.
aa

Đây là nhận định của chuyên gia Phạm Xuân Hòe - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, đưa ra tại cuộc Hội thảo Khoa học thường niên với chủ đề “Kinh tế Việt Nam 2024: Nỗ lực phục hồi trong bối cảnh nhiều bất định” do Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức ngày 11/4.

Sức mua tiêu dùng giảm so với trước dịch

Tại hội thảo, TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, nhận định thế giới đang trải qua giai đoạn có 4 điều nổi bật là “bất định, bất ổn, bất an và bất thường”. Giai đoạn này có thể còn kéo dài và gây bất lợi cho sự phát triển của mọi quốc gia. Xung đột giữa các nước lớn, chủ nghĩa dân tộc cực đoan nổi lên, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống… đều là những vấn đề gây có thể gây bất ổn và khó lường.

Xử lý nợ xấu: Hạn chế đẩy rủi ro cho tương lai
Toàn cảnh hội thảo.

Theo TS Võ Trí Thành, dù phía trước còn nhiều khó khăn, thậm chí sóng bão, song chúng ta vẫn có lý do để tin vào một kết quả tích cực hơn trong phát triển kinh tế năm 2024. Quan trọng hơn, hy vọng Việt Nam tạo dựng được những nền tảng cơ bản tốt hơn, chất lượng hơn, cả về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực, để bứt phá phát triển trong giai đoạn tới.

Trong những khó khăn đó, thì tín hiệu tích cực là kinh tế thế giới năm nay và năm sau có có khả năng phục hồi khả quan hơn, nguy cơ suy thoái của các đối tác lớn của Việt Nam là thấp.

Với kinh tế Việt Nam, giai đoạn chịu áp lực lớn nhất về tài chính, tiền tệ (cuối năm 2022) đã qua, dù vậy chắc chắn vẫn còn nhiều vấn đề về tài chính, tiền tệ phải giải quyết để hỗ trợ cho phục hồi tăng trưởng.

Một số nét nổi bật của kinh tế Việt Nam thời gian gần đây được TS Võ Trí Thành chỉ ra như là sự phục hồi của xuất khẩu, của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư công thuận lợi, làn sóng FDI tăng tốc… Những điều này đã tạo tác động lan tỏa cho cả nền kinh tế.

Mặt ngược lại, những điều cần lưu tâm là nhu cầu tiêu dùng giảm, đầu tư tư nhân thấp, sức khỏe doanh nghiệp yếu và tín dụng tăng rất chậm, đặc biệt là tín dụng cho thị trường bất động sản.

Mặc dù đã có sự đóng góp từ lượng khách du lịch quốc tế tăng mạnh, song tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ quý I/2024 chỉ tăng 5,1% (đã loại trừ yếu tố giá), rất thấp so với thời điểm trước dịch cũng so với năm 2023. “Như vậy là tiêu dùng của người Việt giảm rất mạnh. Đó cũng là vấn đề nhiều người thắc mắc khi tăng trưởng được tới 5,66 % trong quý I, mà số lượng doanh nghiệp rút lui lớn hơn nhiều số doanh nghiệp gia nhập thị trường” - TS Võ Trí Thành nêu vấn đề.

Lãi suất cho vay khó giảm

Bình luận sâu hơn về lĩnh vực tiền tệ, chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hòe cho rằng cần phải phân tích kỹ lưỡng, nhìn sâu hơn vào các con số để nhận định đúng vấn đề. Thực tế, doanh nghiệp trong nền kinh tế vẫn thiếu tiền và thanh khoản. Dù Ngân hàng Nhà nước đã liên tục hạ lãi suất, song lãi suất cho vay vẫn cao.

Ông Phạm Xuân Hòe lý giải, nghịch lý này là do thị trường 1 (thị trường cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp, người dân) và thị trường 2 (thị trường cho vay giữa các ngân hàng thương mại, với sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước) chưa có sự liên thông nhịp nhàng. Hạ lãi suất điều hành nhưng cung tiền không ra nền kinh tế thì lãi suất trên thị trường cho vay với doanh nghiệp và người dân vẫn cao.

Một yếu tố nữa tác động lớn đến lãi suất cũng như đến cả hệ thống ngân hàng là nợ xấu. “Quá trình tái cơ cấu ngân hàng chưa thể coi là thành công khi 3 ngân hàng 0 đồng vẫn còn day dứt, vụ việc SCB là điển hình của hiện tượng thao túng, chuyển nguồn lực cho sân sau, khiến dòng tiền không phát huy hiệu quả trong nền kinh tế” - ông Phạm Xuân Hòe bình luận.

Xử lý nợ xấu: Hạn chế đẩy rủi ro cho tương lai

Ông Phạm Xuân Hòe phát biểu tại hội thảo.

Theo vị chuyên gia này, nếu việc xử lý nợ xấu chỉ theo cách là khoanh, giãn, xóa… thì sẽ là đẩy rủi ro cho tương lai, bởi ngân hàng vẫn có lợi nhuận cao, nhưng nền kinh tế và người dân gánh chịu rủi ro và thiệt hại về lâu dài khi nguồn lực bị mất đi. Nếu tư duy, chính sách xử lý nợ xấu không thay đổi thì mặt bằng lãi suất cho vay không thể giảm, bởi ngoài phần bù lạm phát, chi phí hoạt động, thì cấu phần bù rủi ro là rất lớn từ sự thiệt hại do nợ xấu.

Trong khi mặt bằng lãi suất cho vay còn cao, việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng không hề dễ dàng. Bởi để vay được tiền ngân hàng phải có tài sản thế chấp, nhưng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, họ thường không có đủ tài sản thế chấp đủ theo yêu cầu ngân hàng. Về phía cán bộ ngân hàng, đây cũng là khó khăn khi nếu không có tài sản thế chấp, xảy ra thiệt hại thì có nguy cơ bị hình sự hóa.

Đây là vấn đề mà Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giải quyết phần nào. Song, theo ông Phạm Xuân Hòe, với quy mô nhỏ và cơ chế quá chặt chẽ tương tự ngân hàng, quỹ này hầu như chưa phát huy được vai trò của mình.

Thảo luận tại hội thảo, các chuyên gia cũng nêu ra một số vấn đề có thể coi là nghịch lý trong nền kinh tế như lạm phát thấp - lãi suất cao, tăng trưởng cao - năng suất thấp, ngân hàng thừa tiền - doanh nghiệp thiếu vốn… Trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới còn bất định, Chính phủ đang có nỗ lực, quyết tâm triển khai hàng loạt các giải pháp, nhiệm vụ để khơi thông những điểm nghẽn của nền kinh tế, điều được các chuyên nhấn mạnh là phải nhìn vào thực tại nền kinh tế để có những đánh giá đúng đắn, nhận định chính xác, từ đó mới tìm ra đúng nguyên nhân, giải pháp trọng tâm cho nền kinh tế.

Hoàng Yến

Đọc thêm

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 19/09/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30