Agribank vững tin cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Nhật Minh
(TBTCO) - Toàn hệ thống Agribank vững tin bước sang năm 2025 với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, kế hoạch được giao, tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước; tạo tiền đề phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo, cùng đất nước sẵn sàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
aa
Agribank vững tin cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới
Agribank đi đầu thúc đẩy tín dụng xanh, hướng tới nền kinh tế xanh và bền vững.

Vượt thách thức ghi dấu ấn thành công

Năm 2024, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), toàn hệ thống Agribank đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, kế hoạch kinh doanh được giao, hoạt động kinh doanh duy trì ổn định và phát triển, hỗ trợ có hiệu quả để người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giữ ổn định hệ thống tài chính, tiền tệ.

Kết thúc năm 2024, tổng tài sản của Agribank đạt trên 2,2 triệu tỷ đồng, tăng gần 10% so với cuối năm 2023; nguồn vốn đạt trên 2 triệu tỷ đồng, tăng 7,6%; dư nợ đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 11%. Song song với tăng trưởng tín dụng, Agribank đã quyết liệt chỉ đạo triển khai các giải pháp kiểm soát, xử lý thu hồi nợ xấu. Tính đến 31/12/2024, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,55%; tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn nợ xấu, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) chưa xử lý đã giảm xuống dưới 3,2%, giảm gần 3% so với cuối năm 2021. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng giảm tỷ lệ bao phủ nợ xấu thì Agribank tăng 1,2% so với đầu năm ở mức 131,1%, tạo bộ đệm dày dặn hơn giúp ngân hàng chủ động ứng phó khi rủi ro phát sinh.

Bên cạnh đó, thu dịch vụ đạt 8,6 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế tăng trên 9%; nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2024 đạt trên 45 nghìn tỷ đồng. Các chỉ tiêu chủ yếu theo Phương án cơ cấu lại cơ bản hoàn thành (tăng trưởng nguồn vốn, dư nợ, thu nợ đã xử lý rủi ro, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế); các giải pháp lớn về nâng cao hiệu quả công tác quản trị, điều hành, sắp xếp lại mạng lưới, nâng cao chất lượng tài sản, phát triển sản phẩm dịch vụ, hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin..., đang triển khai theo tiến độ.

Trong năm qua, Agribank tiếp tục triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách, các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Agribank thực hiện nhiều đợt giảm lãi suất cho vay, nghiêm túc công khai lãi suất theo chỉ đạo của NHNN; triển khai 17 chương trình tín dụng ưu đãi lãi suất với tổng quy mô 457 ngàn tỷ đồng đối với các đối tượng khách hàng. Theo đó, tăng trưởng tín dụng năm 2024 của Agribank cao hơn mục tiêu đề ra từ đầu năm và cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng năm 2023.

Agribank tiếp tục đi đầu, gương mẫu tích cực thực thi Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, góp phần đưa dịch vụ tài chính, tín dụng đến với người dân tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn; đi đầu thực hiện chương trình hành động của Chính phủ và ngành Ngân hàng về triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, thúc đẩy tín dụng xanh, thực hành ESG, hướng tới nền kinh tế xanh và bền vững. Năm 2025, với việc xuất sắc đạt giải Đặc biệt “Ngân hàng xanh cho cuộc sống xanh”, Agribank không ngừng khẳng định vai trò ngân hàng tiên phong, chủ lực trong thực hiện mục tiêu chuyển đổi xanh của Việt Nam.

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank luôn phát huy trách nhiệm xã hội của “Ngân hàng vì cộng đồng”. Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, từ nguồn tài chính và sự hưởng ứng của gần 4 vạn cán bộ, người lao động toàn hệ thống, năm 2024, Agribank ủng hộ gần 700 tỷ đồng triển khai các hoạt động an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết; xóa đói giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; khắc phục hậu quả thiên tai bão lũ…

Riêng dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025, Agribank dành hơn 100 tỷ đồng để triển khai chương trình an sinh xã hội hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách trên phạm vi cả nước có điều kiện được đón Tết cổ truyền của dân tộc đầy đủ, ấm áp…

Vững nội lực phát triển cùng đất nước

Agribank vững tin cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới
Agribank tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt các mục tiêu định hướng đã được phê duyệt.

Trước tình hình thế giới và trong nước năm 2025 dự báo có những thuận lợi và khó khăn đan xen. Trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế - xã hội, phát huy những kết quả đã đạt được năm 2024, ngay từ đầu năm 2025, Đảng ủy Agribank đã ban hành Nghị quyết nhiệm vụ công tác năm 2025, Hội đồng thành viên ban hành Nghị quyết về chỉ tiêu, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu năm 2025 làm cơ sở để các đơn vị trong toàn hệ thống tiếp tục triển khai các giải pháp đang thực hiện theo lộ trình, đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt các mục tiêu định hướng đã được phê duyệt.

Theo đó, năm 2025 được xác định là năm toàn hệ thống tập trung nguồn lực, nỗ lực tối đa, quyết tâm hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kinh doanh được NHNN giao, các mục tiêu, chỉ tiêu của Phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ X, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đề án chiến lược phát triển Agribank đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, tạo tiền đề phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo, phấn đấu nằm trong Top 100 các ngân hàng lớn mạnh nhất khu vực Châu Á.

Năm 2025, Agribank tiếp tục tập trung kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu phát sinh; đẩy mạnh xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ có vấn đề để giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa được xử lý, thu hồi và nợ tiềm ẩn nợ xấu. Tiếp tục triển khai, phát huy hiệu quả công tác cơ cấu, sắp xếp mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch theo hướng tối ưu hóa mạng lưới hiện hữu, phù hợp với Thông tư số 32/2024/TT-NHNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, đặc biệt trên địa bàn TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin trong các nghiệp vụ, lĩnh vực hoạt động. Phát huy hiệu quả công tác điều hành, quản lý cân đối vốn thông qua cơ chế kế hoạch, công cụ điều chuyển vốn nội bộ (FTP) nhằm tối ưu sử dụng vốn, tăng năng lực tài chính và tuân thủ các tỷ lệ an toàn hoạt động…

Năm 2025 là năm cuối thực hiện các mục tiêu của Phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ X, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Vì vậy, việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2025 nói riêng và cả nhiệm kỳ 2020 - 2025 nói chung là cơ sở để Agribank xây dựng các mục tiêu, chỉ tiêu của Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV - thời điểm được xác định bắt đầu kỷ nguyên mới của dân tộc, ghi dấu ấn 40 năm đổi mới đất nước (1986 - 2026).

Vinh dự đứng đầu hệ thống ngân hàng thương mại trong nước

Uy tín và thương hiệu của Agribank tiếp tục được nâng cao. Agribank vinh dự được xếp hạng đứng đầu hệ thống ngân hàng thương mại trong nước, TOP 50 doanh nghiệp lớn nhất khu vực Đông Nam Á theo Bảng xếp hạng của Fortune; tiếp tục được Moody's xếp hạng Ba2, triển vọng Ôn định và Fitch Ratings xếp hạng BB+, triển vọng Ổn định, tương đương với mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.

Nhật Minh

Đọc thêm

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

(TBTCO) - Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực ngân hàng đề xuất bổ sung quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 142,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼50K 14,220 ▼50K
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,530 ▼50K 14,130 ▼50K
Trang sức 99.99 13,540 ▼50K 14,140 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 ▼5K 14,222 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 ▼5K 14,223 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 ▼5K 1,417 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 ▼5K 1,418 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▼5K 1,402 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 ▼495K 138,812 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 ▼375K 105,311 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 ▼340K 95,496 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 ▼305K 85,681 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 ▼291K 81,895 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 ▼209K 58,619 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▼5K 1,422 ▼5K
Cập nhật: 07/08/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17899 18173 18754
CAD 18155 18431 19046
CHF 31662 32042 32684
CNY 0 3840 3940
EUR 29564 29786 30863
GBP 34413 34804 35735
HKD 0 3208 3410
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15074 15659
SGD 19896 20178 20756
THB 708 771 824
USD (1,2) 25934 0 0
USD (5,10,20) 25974 0 0
USD (50,100) 26003 26017 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26020 26020 26400
AUD 18063 18163 19088
CAD 18346 18446 19461
CHF 31847 31877 33466
CNY 3824.3 3849.3 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29747 29777 31502
GBP 34758 34808 36566
HKD 0 3355 0
JPY 162.01 162.51 173.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15175 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20045 20175 20900
THB 0 735.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14220000
SBJ 12500000 12500000 14220000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,042 26,092 26,420
USD20 25,992 26,092 26,686
USD1 25,942 26,092 26,736
AUD 18,111 18,211 19,319
EUR 29,544 29,644 31,308
CAD 18,293 18,393 19,700
SGD 20,133 20,283 21,555
JPY 162.49 163.99 169.52
GBP 34,655 34,805 35,870
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/08/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80