Áp lực lãi suất điều hành tăng, nhưng chính sách nới lỏng tiền tệ vẫn duy trì

Duy Thái
(TBTCO) - Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) kéo dài thời gian giảm lãi suất đồng USD đang tạo áp lực lớn lên tỷ giá và tăng lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ trong phần còn lại của năm nay khi Chính phủ vẫn ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đồng thời xu hướng giảm lãi suất đang diễn ra trên toàn cầu, cho dù FED còn chần chừ.
aa
Áp lực lãi suất điều hành tăng, nhưng chính sách nới lỏng tiền tệ vẫn duy trì
Nguồn: SBV, Fiinpro, MBS Research.

Áp lực tăng lãi suất vẫn lớn

Theo thông tin từ MBS Research, lãi suất thị trường liên ngân hàng duy trì trên ngưỡng 4% ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 7 vừa qua. Đặc biệt, vào ngày 9/7, lãi suất qua đêm bật tăng, lên 4,9% - mức cao nhất kể từ cuối tháng 5, điều này phát tín hiệu về thiếu hụt thanh khoản hệ thống sau những động thái hút ròng mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong 2 tháng vừa qua.

Tiếp tục các giải pháp để giảm lãi suất cho vay

Theo lãnh đạo NHNN, trong thời gian 6 tháng cuối năm, cơ quan này sẽ tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Thêm vào đó, tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 30/6 đã đạt 6% cũng là một yếu tố tác động đến đà tăng của lãi suất liên ngân hàng. Mặc những nỗ lực can thiệp của NHNN, lãi suất qua đêm vẫn neo cao ở mức 4,7%, trong khi lãi suất các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động từ 4,7% - 4,8% vào cuối tháng 7.

Trong khi đó, lãi suất đầu vào vẫn đang trên đà tăng. Theo số liệu từ MBS Research, tính đến ngày 25/7, tổng cộng đã có 16 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động với mức tăng từ 0,1% - 0,7%, thậm chí lãi suất ở một vài ngân hàng đã vượt mốc 6%/năm, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang tăng nhanh gấp 3 lần so với tốc độ tăng của huy động vốn. Điều này đã khiến các ngân hàng ráo riết tăng lãi suất huy động, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của kênh tiết kiệm so với các kênh đầu tư khác trên thị trường. Tiếp nối VietinBank, BIDV là ngân hàng thứ 2 trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước điều chỉnh lãi suất tiết kiệm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 24 - 36 tháng được tăng thêm 0,1%/năm lên mức 4,9%.

Theo ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Phân tích Công ty CP Chứng khoán Yuanta Việt Nam, từ đầu năm đến nay, NHNN vẫn kiên định với chính sách nới lỏng tiền tệ. Tuy vậy, việc FED chậm giảm lãi suất hơn dự kiến chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. “Chúng ta có độ mở rất cao với nền kinh tế toàn cầu, từ 80 - 90%. Hoạt động xuất nhập khẩu rất sôi động, đặc biệt là cán cân thương mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ là rất cao” - ông Minh nói.

“Việc FED chậm giảm lãi suất rõ ràng sẽ khiến đồng VND mất giá mạnh. Việc NHNN duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng làm áp lực tỷ giá sẽ còn tiếp diễn. Tôi nghĩ NHNN nhiều khả năng sẽ thực hiện việc nâng lãi suất” - ông Minh dự báo.

Không quá áp lực để phải thay đổi chính sách tiền tệ

Theo các chuyên gia của MBS Research, nhu cầu tín dụng sẽ tiếp tục xu hướng tăng lên mạnh hơn từ giữa năm 2024, khi sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 8,5% so với cùng kỳ, chỉ số quản trị người mua hàng (PMI) đạt 54,7 điểm trong tháng 6. Đầu tư công và tư nhân 6 tháng lần lượt tăng 3,5% và 6,7%. “Chúng tôi dự báo, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ có thể nhích thêm 50 điểm cơ bản, quay về mức 5,2% - 5,5% vào cuối năm 2024” - các chuyên gia của MBS Research dự báo.

Tuy nhiên, cũng theo các chuyên gia của MBS Research, lãi suất đầu ra sẽ vẫn duy trì ở mặt bằng hiện tại trong bối cảnh các cơ quan quản lý và các ngân hàng thương mại đang nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.

Ông Nguyễn Thế Minh cũng bình luận, việc tăng lãi suất trong khi tăng trưởng tín dụng còn yếu, tăng trưởng kinh tế mới “chớm nở” có thể không phải giải pháp tốt để hỗ trợ cho đồng nội tệ. Mặt khác, nó có thể gây áp lực và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Dù vậy, “tôi nghĩ không cần quá lo ngại. Bởi theo nhiều dự báo, đánh giá, xác suất để FED giảm lãi suất ngay trong tháng 9 là hơn 90%. Kịch bản này rõ ràng là rất tích cực với chính sách nới lỏng tiền tệ. NHNN không nhất thiết tăng lãi suất điều hành lãi suất cơ bản để kiềm chế tỷ giá” - ông Minh nói.

Mặt khác, chuyên gia của Yuanta Việt Nam còn nhìn nhận, NHNN vẫn sẽ duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ trong phần còn lại của năm 2024. Luận điểm này dựa trên cơ sở Chính phủ và NHNN ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, “dù FED chần chừ, song xu hướng giảm lãi suất đang diễn ra trên toàn cầu. Đơn cử, Ngân hàng Trung ương Canada (BoC) hạ lãi suất chuẩn 25 điểm cơ bản, xuống 4,75% và là ngân hàng trung ương trong nhóm G7 đầu tiên bắt đầu chu kỳ nới lỏng. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ngay sau đó đã hạ lãi suất chuẩn 25 điểm cơ bản, xuống 3,75%, trong khi Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ (SNB) đã có động thái cắt giảm lãi suất vào tháng 3./.

Duy Thái

Đọc thêm

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▼40K 15,100 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▼40K 15,100 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▼40K 15,100 ▼40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,290 ▼40K 14,990 ▼40K
Trang sức 99.99 14,300 ▼40K 15,000 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 06/07/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17697 17970 18546
CAD 17979 18254 18871
CHF 32039 32421 33068
CNY 0 3834 3927
EUR 29429 29650 30728
GBP 34285 34676 35607
HKD 0 3223 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14651 15233
SGD 19810 20091 20662
THB 708 771 824
USD (1,2) 26036 0 0
USD (5,10,20) 26077 0 0
USD (50,100) 26106 26120 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,561 29,585 30,975
JPY 158.25 158.54 167.99
GBP 34,478 34,571 35,734
AUD 17,906 17,971 18,633
CAD 18,167 18,225 18,882
CHF 32,309 32,409 33,329
SGD 19,940 20,002 20,771
CNY - 3,805 3,948
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.86 16.54 17.98
THB 756.03 765.37 818.5
NZD 14,647 14,783 15,207
SEK - 2,680 2,773
DKK - 3,955 4,091
NOK - 2,627 2,723
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.96 - 6,813.92
TWD 742.93 - 899.25
SAR - 6,885.46 7,250.63
KWD - 83,220 88,471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17876 17976 18906
CAD 18151 18251 19262
CHF 32285 32315 33897
CNY 3817.2 3842.2 3978
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29604 29634 31357
GBP 34576 34626 36387
HKD 0 3355 0
JPY 159.08 159.58 170.09
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14763 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19965 20095 20828
THB 0 736.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15200000
SBJ 13000000 13000000 15200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/07/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80