Hành động vì chất lượng sống: Từ cộng đồng đến quốc gia

Mỗi con số, mỗi dự án, mỗi cộng đồng chuyển mình xanh hơn đều minh chứng cho một hành trình bền bỉ - từ nhận thức đến hành động, từ chính sách đến đời sống. Trên khắp đất nước, các chương trình quản lý và cải thiện môi trường đã tạo ra những thay đổi rõ rệt trong từng đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, dòng sông và khu dân cư. Đến nay, 95% khu công nghiệp và khu chế xuất đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; 94% lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý an toàn; 98% chất thải nguy hại đã được quản lý chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc và xử lý đúng quy trình.

Bảo vệ môi trường là trọng tâm phát triển bền vững của Việt Nam
Việt Nam đang từng bước kiến tạo một nền kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp. Ảnh: Đức Thanh

Hơn 60 điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất, thuốc trừ sâu và chất độc dioxin - những “vết thương chiến tranh và công nghiệp” đã được xử lý triệt để, trả lại màu xanh cho đất và nước. Nhiều vùng ô nhiễm nặng như ở Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Nguyên, Đồng Nai đã được phục hồi, tái sinh thành khu dân cư - sản xuất sạch. 34 làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng đã được cải tạo, với mô hình xử lý tập trung và phân loại rác tại nguồn, không chỉ cứu môi trường mà còn giữ gìn sinh kế truyền thống.

Song song với xử lý ô nhiễm, Việt Nam đã hình thành mạng lưới quan trắc và giám sát môi trường hiện đại: 135 trạm quan trắc không khí và 145 trạm nước mặt quốc gia; hơn 2.000 trạm tự động của doanh nghiệp và địa phương kết nối vào cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, cho phép giám sát liên tục. Hệ thống này được vận hành qua nền tảng số hóa đồng bộ, giúp nhà quản lý có thể theo dõi chất lượng môi trường 24/7, dự báo rủi ro ô nhiễm, hỗ trợ ra quyết định chính sách tức thời…

Các chỉ số về bảo vệ môi trường đã đóng góp quan trọng đưa chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam lên vị thế hàng đầu ở khu vực với vị trí 54/166 quốc gia và vùng lãnh thổ (năm 2024), tăng 34 bậc so với năm 2016, xếp thứ hai trong ASEAN.

Chi ngân sách sự nghiệp môi trường tăng

Huy động nguồn lực tài chính, đảm bảo các điều kiện cho công tác bảo vệ môi trường là một trong những thành công của ngành. Việc hình thành mục chi sự nghiệp môi trường riêng đã tạo chuyển biến to lớn về nguồn lực của nhà nước cho hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ công tác bảo vệ môi trường ở các bộ, ngành và địa phương. Từ năm 2008, chi sự nghiệp môi trường đã được bố trí tăng dần qua các năm, đến năm 2024 tăng gần 6 lần so với năm 2008.

Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm môi trường

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến 2045. Trong đó, đã đề xuất một số giải pháp như tập trung nguồn lực của nhà nước, xã hội cho đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm không khí và phục hồi chất lượng nước ở các lưu vực sông bị ô nhiễm nghiêm trọng…

Theo đó, nếu năm 2008, tổng chi sự nghiệp môi trường chỉ là 4.142 tỷ đồng thì năm 2024, kinh phí thực hiện lên trên 5,7 lần, đạt 23.715 tỷ đồng. Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cũng đã phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện tốt việc tổng hợp, đề xuất phân bổ kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường hàng năm, giai đoạn 3 và 5 năm cho các bộ, ngành, địa phương.

Ngoài ra, từ năm 2012, Bộ bắt đầu triển khai thu phí thực hiện các thủ tục hành chính về môi trường và các nguồn thu này tăng qua các năm, góp phần đáng kể vào tăng ngân sách nhà nước.

Cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên lĩnh vực môi trường đã được Quốc hội thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 - 2015, qua đó tập trung nguồn lực để khắc phục ô nhiễm, cải thiện và phục hồi môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm… Trên cơ sở kết quả của chương trình này, Quốc hội tiếp tục thông qua Chương trình mục tiêu xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về Môi trường và Biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2025.

Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường cũng đã được đẩy mạnh, khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường, đồng thời huy động có hiệu quả các nguồn vốn ODA cho công tác bảo vệ môi trường cho các lĩnh vực như: Bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm… Việc huy động nguồn lực đầu tư của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường cũng đã được quan tâm đẩy mạnh.

Theo GS.TS Phạm Văn Đức - nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước phát triển mới về tư duy phát triển khi khẳng định: “bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế và xã hội là nhiệm vụ trung tâm". Điều này phản ánh bước hoàn thiện trong cách tiếp cận phát triển bền vững của Việt Nam - mô hình phát triển dựa trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.

Tầm nhìn 2045 Việt Nam xanh, vững vàng trước biến đổi khí hậu

Tầm nhìn 2045, khi Việt Nam tròn 100 năm độc lập, ngành môi trường hướng tới một tầm nhìn lớn lao: đưa đất nước trở thành quốc gia xanh - hùng cường - vững vàng trước biến đổi khí hậu, nơi con người, tự nhiên và công nghệ cùng hòa nhịp trong một hệ sinh thái phát triển bền vững và bao trùm. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nền kinh tế carbon thấp, hướng tới trung hòa phát thải ròng (Net Zero) vào năm 2050, đúng như cam kết tại COP26.

Để đạt mục tiêu đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, định hướng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành để triển khai có hiệu quả Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

Bên cạnh đó, đổi mới cách tiếp cận trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tương đương với các quốc gia phát triển, trong đó điều kiện tiên quyết là chú trọng nâng cao chất lượng sống và sức khỏe của người dân ngang bằng với quốc tế; cập nhật thường xuyên tiến bộ khoa học công nghệ, ngăn chặn có hiệu quả xu hướng chuyển dịch các dòng thải từ nước ngoài vào Việt Nam.

Đồng thời, tập trung hoàn thiện các chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, hướng đến nền kinh tế carbon thấp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, tập trung bố trí và sử dụng nguồn lực cho bảo vệ môi trường theo hướng trọng tâm, ưu tiên xử lý các vấn đề kéo dài; đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, tập trung cho xử lý chất thải, phục hồi môi trường.

Bộ tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xây dựng nền tảng số nhằm giám sát, thu thập dữ liệu môi trường; thực hiện cơ chế giao quyền tự chủ trong sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về bảo vệ môi trường; thúc đẩy đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng,...