Chứng khoán và vàng "đua sức hút" trong môi trường lãi suất thấp

Chí Tín
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất đang lùi về mức rất thấp trong nhiều năm. Trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn còn đối diện nhiều khó khăn khó có sự bứt phá, dòng tiền đang hướng vào 2 kênh đầu tư là chứng khoán và vàng.
aa
Chứng khoán và vàng
Mặt bằng lãi suất trong thời gian qua tiếp tục giảm thấp. Ảnh: TL

Bất động sản vẫn còn khó khăn

Mặt bằng lãi suất trong thời gian qua tiếp tục giảm thấp và đã về thấp hơn lãi suất thời kỳ trước dịch Covid-19. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của ngân hàng thương mại trong nước tháng 1/2024 ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 2,5 - 3,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng.

Quan điểm điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước

Đầu năm 2024, NHNN cho biết, tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Trong tháng 2/2023, NHNN cũng đã có công văn số 117/NHNN-CSTT yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của NHNN về vấn đề lãi suất và báo cáo tình hình công bố lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân.

Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,8 - 10,1%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,7%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm). Trong khi đó, đại diện NHNN cho biết, cơ quan này sẽ tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Diễn biến thị trường tiền tệ cho thấy, mặt bằng lãi suất trên chưa hẳn đã chạm đáy, bởi lãi suất tiếp tục có xu hướng giảm thêm trong tháng 2. Cuối tháng 2, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh lãi suất tiết kiệm theo xu hướng giảm. Chẳng hạn, MB điều chỉnh giảm đồng loạt lãi suất huy động ở tất cả các kỳ hạn, đối với khách hàng cá nhân gửi tiền tại ngân hàng, mức lãi suất thấp nhất tại kỳ hạn 1 tháng là 2,3%/năm, 2 tháng còn 2,5%/năm, 3 tháng là 2,6%/năm, 4 tháng là 2,9%/ năm, 5 tháng là 3%/năm.

Một số ngân hàng khác như: SeABank, CBBank, BacABank, Techcombank cũng công bố điều chỉnh giảm lãi suất huy động trung bình từ 0,2 - 0,4%/năm. Tuy mức giảm lãi suất huy động nhỏ giọt và không nhiều, nhưng đây là giải pháp nhằm giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế trong năm 2024.

Lãi suất giảm thấp, nhưng thị trường bất động sản vẫn còn đối diện với khá nhiều khó khăn. Việc tín dụng tăng trưởng thấp đầu năm 2024 cũng được nhiều ngân hàng phân tích các nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân của thị trường bất động sản còn nhiều khó khăn. Ông Phạm Toàn Vượng - Tổng Giám đốc Agribank cho biết, bất động sản có hai loại dự án là dự án mới và dự án đang đầu tư, việc tháo gỡ những vướng mắc về Luật Đất đai, Luật Nhà ở… của chính quyền địa phương còn rất chậm, nhiều dự án tồn đọng đến 1-2 năm.

Chứng khoán và vàng “đua sức”

Chứng khoán và vàng
Ảnh minh họa

Giai đoạn cuối năm 2023 và đầu năm 2024 cũng là thời kỳ nhiều khoản tiết kiệm đã gửi từ thời điểm lãi suất cao khoảng 1 năm trước đáo hạn, đây cũng là lúc người dân cân nhắc việc rút bớt tiền ra chuyển sang kênh khác thay vì gửi lại tiền chu kỳ mới với lãi suất thấp. Theo đó, chứng khoán và vàng đã trở thành những kênh đầu tư thu hút dòng tiền khá mạnh trong thời gian gần đây.

Tại thị trường chứng khoán, bất chấp trạng thái liên tục bán ròng của các nhà đầu tư ngoại, dòng tiền nội đã khẳng định sức mạnh rõ rệt khi đưa chỉ số VN-Index bùng nổ từ mặt bằng chỉ 1.100 điểm hồi đầu tháng 12/2023, nay đã bật lên mặt bằng 1.250 điểm, tương ứng mức tăng khoảng 13,6%. Trong khi đó tại thị trường vàng, giá vàng miếng SJC 9999 bán ra trong 3 tháng qua đã tăng từ 73,6 triệu đồng/lượng, lên 79,5 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng khoảng 8%.

Tốc độ tăng của chỉ số VN-Index nhanh hơn so với tốc độ tăng giá vàng, tuy nhiên, điều này cũng có thể giải thích từ các con số kinh doanh quý IV/2024 của nhiều doanh nghiệp đã phục hồi khá tốt so với giai đoạn trước. Số liệu cập nhật của FiinTrade đến cuối tháng 1/2024 với gần 1.000 doanh nghiệp niêm yết, đại diện 95,6% vốn hóa trên ba sàn công bố báo cáo tài chính quý IV/2023, tổng lợi nhuận sau thuế tăng trưởng 49,4% so với cùng kỳ.

Trong khi đó, giá vàng tuy tăng chậm hơn so với chứng khoán, nhưng hiện tại vấn đề đặt ra với vàng, đây là kênh tài sản không tạo ra giá trị, đặc biệt thời gian gần đây giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới, nhất là vàng miếng SJC luôn trong trạng thái “một mình một giá”.

Theo đó, thời gian qua cũng có nhiều quan điểm cho rằng, cần có chính sách hợp lý để ổn định thị trường vàng, đưa giá vàng trong nước về sát giá vàng thế giới để tránh hiện tượng đầu cơ vàng. Theo ông Nguyễn Minh Tuấn - CEO AFA Capital, thực chất câu chuyện giá vàng trong nước chênh lệch so với giá vàng thế giới không phải vấn đề lớn do bối cảnh đặc thù của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc có giải pháp quản lý thị trường vàng là cần thiết để tạo sự cân bằng, ổn định ở mức tốt nhất cho thị trường này. Một trong những giải pháp có thể nghĩ đến là tổ chức sàn giao dịch vàng (vật chất) tập trung và xem xét đánh thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch mua bán vàng./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18824
CAD 18063 18338 18955
CHF 30862 31239 31881
CNY 0 3835 3931
EUR 29207 29427 30506
GBP 34015 34405 35337
HKD 0 3184 3386
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14607 15192
SGD 19846 20128 20696
THB 695 759 811
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18159 18259 19184
CAD 18247 18347 19361
CHF 31131 31161 32739
CNY 3817.6 3842.6 3978
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29402 29432 31157
GBP 34327 34377 36135
HKD 0 3305 0
JPY 163.49 163.99 174.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14717 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20007 20137 20868
THB 0 724.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 17/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30