Còn dư địa để giảm lãi suất cho vay?

Duy Thái
(TBTCO) - Áp lực tăng lãi suất huy động đã xuất hiện và thực tế nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất đầu vào để thu hút vốn. Điều này về lý thuyết sẽ "làm khó" cho mục tiêu giảm lãi suất cho vay. Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất cho vay vẫn còn dư địa giảm, vì sao?
aa
Còn dư địa để giảm lãi suất cho vay?
Phần lớn các ngân hàng đã tăng lãi suất đầu vào. Ảnh: Duy Dũng

Áp lực tăng lãi suất đầu vào đã “nóng lên”

Trên thị trường ngân hàng, lãi suất huy động đang dần nóng lên từng ngày. Việc tăng lãi suất không chỉ là hiện tượng mang tính cục bộ, nhỏ lẻ ở một vài ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhỏ, mà tới thời điểm này, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng đã nhập cuộc.

Tín dụng phục hồi

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống phục hồi từ cuối tháng 3/2024 và tăng dần qua các tháng, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2023, đến hết quý II/2024 đạt 6% theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tính đến cuối tháng 7/2024, dư nợ tín dụng gần 14,33 triệu tỷ đồng, tăng 14,99% so với cùng kỳ 2023 và tăng 5,66% so cuối năm 2023.

Theo số liệu công bố từ đầu tháng 8 của MBS Research, tính đến ngày 25/7, tổng cộng đã có 16 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động với mức tăng từ 0,1% - 0,7%, thậm chí lãi suất ở một vài ngân hàng đã vượt mốc 6%/năm, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang tăng nhanh gấp 3 lần so với tốc độ tăng của huy động vốn. Trong nhóm các ngân hàng cổ phần nhà nước, sau tiếp nối VietinBank, BIDV là ngân hàng thứ 2 trong nhóm này điều chỉnh lãi suất tiết kiệm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 24 – 36 tháng được tăng thêm 0,1%/năm lên mức 4,9%.

Theo lý giải của các chuyên gia MBS Research, các ngân hàng đã ráo riết tăng lãi suất huy động nhằm nâng cao tính cạnh tranh của kênh tiết kiệm so với các kênh đầu tư khác trên thị trường.

Nối theo xu hướng đó, từ cuối tháng 7 đến trung tuần tháng 8, lãi suất huy động tiếp tục được nhiều ngân hàng nâng lên từ mức 0,1 – 0,8 điểm phân trăm ở nhiều kỳ hạn khác nhau. Điển như trong nhịp tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm trong nửa đầu tháng này là: SGB, BAB, BVB, VBB, VIB, STB…

Tăng cao nhất trong đợt này là SGB, khi tăng từ 0,2 – 0,8 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn từ ngày 2/8/2024. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tại SGB tăng 0,8 điểm phần trăm lên 3,3%/năm; 3 tháng cũng tăng 0,8 điểm phần trăm lên 3,5%/năm; 6 tháng tăng 0,7 điểm phần trăm lên 4,8%/năm; và kỳ hạn 12 tháng tăng 0,5 điểm phần trăm lên 5,8%/năm.

Trong đợt này, 4 ngân hàng quốc doanh lớn cũng nhập cuộc cùng xu hướng. Tại Agribank, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng tăng 0,1 diểm phần trăm lên 1,7%/năm; 3 tháng cũng tăng 0,1 điểm phần trăm lên 2%/năm; các kỳ hạn còn lại được giữ nguyên.

Như vậy, lãi suất tiền gửi đã tăng ở tất cả kỳ hạn. Tính bình quân chung, lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ 1-3 tháng được các ngân hàng duy trì trong khoảng

1,6 - 3,9%/năm; kỳ hạn 6 - 9 tháng trong khoảng 2,9-5,45%/năm; kỳ hạn 12 tháng trong khoảng 3,7 - 5,8%/năm, thậm chí riêng kỳ hạn 12 tháng, tại ABBank đã niêm yết mức lãi 6,2%/năm và kỳ hạn 18 tháng ABBank cũng dẫn đầu tới 6,%/năm.

Lãi suất cho vay cũng áp lực theo?

Trước đây, vào thời điểm kết thúc quý II/2024, nhiều ý kiến dự báo rằng, lãi suất huy động sẽ chỉ tăng cục bộ và khó gây tác động lên xu hướng điều hành chính sách tiền tệ. Tại thời điểm đó, một số dự báo cho rằng, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng thương mại lớn sẽ nhích lên 50 điểm cơ bản vào cuối năm 2024, ở mức mức 5,2% - 5,5%. So sánh với con số thực tiễn, tại thời điểm trung tuần tháng 8, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân đã ở và vượt mức lãi suất trên.

Rõ ràng, lãi suất đầu vào tăng sẽ tạo thêm áp lực cho việc giữ nguyên lãi suất cho vay, thậm chí là tiếp tục giảm để hỗ trợ phục hồi kinh tế như chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất đối với các khoản vay mới và cũ tiếp tục giảm, đến cuối tháng 6/2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3%/năm, giảm 0,96% so cuối năm 2023; lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 3,59%/năm, giảm 1,08%/năm so cuối năm 2023.

Trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7, Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước điều hành tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tập trung cho các động lực tăng trưởng truyền thống và động lực tăng trưởng mới. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo, vận động các ngân hàng tiết giảm chi phí, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để giảm lãi suất cho vay với các động lực tăng trưởng, dự án hạ tầng; trong đó, các ngân hàng thương mại nhà nước tiên phong thực hiện "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".

Như vậy, mặc dù chịu sức ép từ lãi suất đầu vào tăng, tuy nhiên, nhiều khả năng sẽ ít tác động tới lãi suất đầu ra theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên gia cho rằng, nhìn chung, mặt bằng lãi suất cho vay mặc dù đã giảm nhiều song vẫn ở mức cao. Trong bối cảnh hiện nay, lãi suất cho vay vẫn cần tính tới câu chuyện giảm thêm, quan trọng nhất là cho vay đúng đối tượng, đúng mục đích và an toàn.

Theo chuyên gia này, nếu nhìn vào con số tăng trưởng tín dụng, qua 6 tháng đã đạt mục tiêu Chính phủ để ra, tuy nhiên, tín dụng chỉ bùng lên vào giai đoạn tháng 6. Tháng 7, tín dụng đã “nguội” đi rất nhiều. “Điều này đặt ra sự băn khoăn về mức độ hấp thụ tín dụng. Thông thường cuối năm nhu cầu tín dụng sẽ gia tăng, nhưng để đạt mức chỉ tiêu 15% là không dễ, trong bối cảnh sức cầu vẫn còn yếu và mặt bằng cho vay thực tế chưa thật sự rẻ” – Chuyên gia này cho hay./.

Duy Thái

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18501 18777 19352
CAD 18696 18974 19591
CHF 33123 33509 34157
CNY 0 3833 3925
EUR 30302 30576 31606
GBP 34963 35357 36282
HKD 0 3232 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15331 15916
SGD 20188 20471 20998
THB 726 789 842
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,506 30,530 31,829
JPY 163.43 163.72 172.72
GBP 35,214 35,309 36,347
AUD 18,726 18,794 19,418
CAD 18,910 18,971 19,573
CHF 33,474 33,578 34,396
SGD 20,362 20,425 21,129
CNY - 3,804 3,929
HKD 3,301 3,311 3,433
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 777.89 787.5 838.66
NZD 15,360 15,503 15,884
SEK - 2,804 2,889
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,813 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.89 - 7,061.56
TWD 758.57 - 914.36
SAR - 6,910.66 7,242.9
KWD - 83,842 88,760
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26373
AUD 18701 18801 19727
CAD 18893 18993 20005
CHF 33398 33428 35002
CNY 3813.8 3838.8 3974.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30498 30528 32253
GBP 35276 35326 37086
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15450 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20353 20483 21213
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80