Đẩy mạnh kinh doanh số, HDBank báo lãi tăng 46,6%, triển khai chia cổ tức 20%

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank – mã Ck: HDB) công bố kết quả kinh doanh 9 tháng với lợi nhuận trước thuế đạt tới 12.655 tỷ đồng, tăng 46,6% so với cùng kỳ. Tỷ lệ ROE 26,7%, tỷ lệ nợ xấu (theo quy định của NHNN) thấp chỉ 1,46%. Ngân hàng đang triển khai chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 20%.
aa

Kết quả kinh doanh tích cực này một lần nữa khẳng định vị thế của HDBank trong top ngân hàng bán lẻ đa năng nền tảng vững vàng, sức khỏe tài chính lành mạnh, năng lực duy trì tăng trưởng mạnh cao và liên tục nhiều năm liền, hiệu quả sinh lời tốt . Ngân hàng này có chiến lược phát triển bền vững, quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ hướng tới khách hàng bán lẻ chất lượng cao và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đặc biệt tại các khu vực đô thị loại 2, nông thôn trong các chuỗi giá trị giàu tiềm năng.

Tăng trưởng tín dụng 16,6%

Theo báo cáo tài chính, lợi nhuận trước thuế quý III của HDBank đạt 4.490 tỷ đồng, tăng 42,7% so với quý III/2023 và lũy kế 9 tháng 12.655 tỷ đồng, tăng 46,6% và hoàn thành 79,8% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Tỷ lệ ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) đạt 26,7%; ROA (tỷ suất lơi nhuận trên tổng tài sản) đạt 2,2% trong nhóm dẫn đầu toàn ngành.

Mảng tài chính tiêu dùng tại HD SAISON tiếp tục phục hồi mạnh mẽ với dư nợ tăng 15% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 906 tỷ đồng, tăng 126% so với cùng kỳ, ROE 22,9%, là công ty tài chính tiêu dùng hiệu quả dẫn đầu ngành. Công ty hiện sở hữu gần 26.000 điểm giao dịch tài chính tại 63 tỉnh thành, phục vụ trên 13 triệu khách hàng.

Tại ngày 30/9/2024, tổng tài sản hợp nhất đạt 629 nghìn tỷ đồng, tăng 23,9% so với cùng kỳ. Huy động vốn 559 nghìn tỷ đồng, tăng 24,8% so với cùng kỳ. Dư nợ tín dụng đạt 412 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6% so với đầu năm.

Đẩy mạnh kinh doanh số, HDBank báo lãi tăng 46,6%, triển khai chia cổ tức 20%
Khách hàng giao dịch tại HDBank.

Chiến lược Ngân hàng số và phát triển bền vững thúc đẩy tăng trưởng

HDBank hướng dòng vốn đến các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế, như nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tài trợ chuỗi, hộ kinh doanh, tiểu thương, tín dụng xanh... Tỷ lệ nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ 1,46%, thấp hơn mức chung của ngành; An toàn vốn (CAR) chuẩn Basel II lên đến 14,8%. Các chỉ tiêu an toàn hoạt động khác đều đạt mức tốt trong chiến lược phát triển bền vững tích hợp toàn diện các yếu tố môi trường – xã hội và quản trị (ESG) vào hoạt động.

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh số tiếp tục diễn ra sôi nổi và tích cực. Đến ngày 30/9/2024, 95% giao dịch của khách hàng cá nhân được thực hiện trên các nền tảng số. Kênh số cũng đóng góp tới 77% số lượng khách hàng mới. Số lượng giao dịch, số dư tiền gửi trên kênh số tăng trưởng theo cấp số nhân. Đồng thời, công tác số hóa hành trình khách hàng, quy trình vận hành, phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng robot, AI vào phục vụ khách hàng được đẩy mạnh, giúp nâng cao năng suất và tối ưu hóa chi phí. Nhờ đó hệ số chi phí/thu nhập hoạt động giảm xuống 34,3%, thấp hơn cùng kỳ.

Triển khai chia cổ tức 30%, chủ động thực thi trách nhiệm xã hội

Tiếp nối truyền thống chia cổ tức đều đặn hàng năm, trong quý III, HDBank đã triển khai chia cổ tức năm 2023 với tổng tỷ lệ 30%, trong đó cổ tức bằng tiền mặt tỷ lệ 10% đã chi trả xong trong tháng 7. Ngân hàng đang khẩn trương hoàn tất các thủ tục chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 20%.

Song song công tác kinh doanh, HDBank chủ động thực thi trách nhiệm xã hội với các hoạt động tiếp sức khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh sau Bão số 3 thông qua gói tín dụng ưu đãi 12.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng hỗ trợ người dân tái thiết sau thiên tai tại các tỉnh, thành phố phía Bắc. Mới đây HDBank và các đơn vị thành viên cũng đóng góp 80 tỷ đồng cho Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước do Thủ tướng Chính phủ phát động.

Chiến lược phát triển bền vững của HDBank được đánh giá cao với những giải thưởng uy tín. Trong đo Sở GDCK TP. Hồ Chí Minh (HoSE) mới đây tiếp tục chọn HDBank vào Chỉ số Phát triển bền vững Việt Nam (VNSI), trong năm thứ 5 liên tiếp. VNSI bao gồm 20 công ty niêm yết có điểm bền vững cao nhất được chọn từ 100 doanh nghiệp niêm yết lớn nhất và được đánh giá toàn diện trên 3 khía cạnh của ESG. Tại giải thưởng The Asian Banker Vietnam Excellence Awards, HDBank đã nhận giải “Ngân hàng tài trợ tín dụng xanh tốt nhất”.

Với những kết quả tích cực sau 9 tháng, HDBank một lần nữa trong nhóm dẫn đầu ngành ngân hàng, năng lực duy trì tăng trưởng cao và liên tục, sẵn sàng hoàn thành kế hoạch Đại hội cổ đông năm 2024./.

Hải Băng

Đọc thêm

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30