Dự báo nợ xấu ngành ngân hàng năm 2025 tăng nhẹ trước khi tiếp tục xu hướng giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo giới phân tích, chất lượng tài sản ngành ngân hàng năm 2024 cải thiện tích cực; bộ đệm dự phòng cải thiện về cuối năm song vẫn giảm 3,6%, đạt 91,4%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu nhà băng nhỏ thấp. Dự báo xu hướng nợ xấu năm 2025 có thể tăng nhẹ trước khi tiếp tục xu hướng giảm do các ngân hàng đẩy mạnh mảng khách hàng cá nhân và lãi suất nhích tăng.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to Sửa Luật Các tổ chức tín dụng, luật hoá Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu

Theo báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng do Trung tâm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Mirae Asset (Việt Nam) công bố, mặc dù vẫn còn một vài ngân hàng ghi nhận chất lượng tài sản giảm nhẹ, tập trung tại nhóm ngân hàng tầm trung, ngoài ra kể cả các ngân hàng nhỏ cũng ghi nhận chất lượng tài sản tăng tích cực.

Xu hướng cải thiện chất lượng tài sản rõ nét

Theo nhóm phân tích Mirae Asset, hết năm 2024, tỷ lệ nợ xấu (NPL) của các ngân hàng niêm yết giảm 1 điểm cơ bản so với cùng kỳ, giảm 31 điểm cơ bản so với quý III/2024 xuống còn 1,92%. Tỷ lệ nợ dưới chuẩn (nợ nhóm 3) giảm rõ hơn với 32 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm 2024 và giảm 42 điểm cơ bản so với quý III/2024.

Chất lượng tài sản không chỉ cải thiện ở mặt tỷ lệ, mà tổng dư nợ dưới chuẩn cũng ghi nhận giảm 10% so với quý III/2024 tại các ngân hàng niêm yết và không hoàn toàn bị nhiễu bởi giải ngân tín dụng cao cuối năm. Nợ xấu phát sinh mới trong quý IV/2024 cũng giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều quý.

"Về tỷ lệ toàn ngành, theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ nhóm 2 tại các ngân hàng thương mại ước khoảng 211,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,25% tổng tín dụng và giảm 7% so với cùng kỳ" - Mirae Asset nhận định.

nợ xấu có thể tăng nhẹ trước khi tiếp tục xu hướng giảm,

Tỷ lệ nợ xấu dự báo nhích tăng nhẹ nửa đầu năm

"Chúng tôi kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu sẽ chỉ cải thiện nhẹ trong giai đoạn nửa sau 2025 dựa trên các giả định. Một là, lãi suất cao hơn có thể gia tăng phần nào tốc độ hình thành nợ xấu. Hai là, phân khúc ngân hàng doanh nghiệp dự kiến tăng trưởng chậm lại, đặc biệt sau mức mở rộng tín dụng mạnh mẽ quý IV/2024, trong khi đó, kỳ vọng đẩy mạnh mảng khách hàng cá nhân trong thời gian tới, vốn có rủi ro nợ xấu cao hơn, khi nhu cầu mảng này gia tăng trở lại sau 2 năm thấp điểm" - Mirae Asset nhận định.

Nợ xấu nội bảng của các ngân hàng thương mại tăng tương đối khoảng 3,4% so với cùng kỳ, lên mức 733,9 nghìn tỷ đồng và chiếm 4,35% tổng dư nợ, giảm 54 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

Nếu loại trừ 5 ngân hàng đang trong diện kiểm soát đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu NPL toàn ngành chỉ ở mức 1,69%.

Theo nhóm phân tích, nợ xấu có thể tăng nhẹ trước khi tiếp tục xu hướng giảm, bởi dù tình hình chung đã cải thiện tích cực, tuy nhiên, so với giai đoạn trước năm 2020, chỉ một số ít ngân hàng có thể đưa các chỉ tiêu chất lượng tài sản về vùng cũ, trong khi tỷ lệ nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết vẫn cao hơn khoảng 42 điểm cơ bản.

Trong ngắn hạn, tổng dư nợ có thể giảm trong giai đoạn đầu năm khi tốc độ giải ngân tín dụng nhanh cuối năm 2024, đòi hỏi thời gian để nền kinh tế thực sự hấp thụ.

Ngoài ra, giới phân tích cũng kỳ vọng vào nhiều quy định tại Nghị quyết số 42/2014/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tiếp tục được triển khai khi sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng tới đây sẽ tạo thuận lợi hơn khi xử lý tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng, để khơi thông được nguồn vốn của hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm 3,6%

Về bộ đệm dự phòng, theo Mirae Asset, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tiếp tục cải thiện, hầu hết các ngân hàng đều ghi nhận bộ đệm dự phòng gia tăng, đặc biệt trong quý IV/2024. Tổng dự phòng trên nợ xấu tại các ngân hàng niêm yết đạt 91,4%, giảm 3,6% so với cùng kỳ nhưng đã ghi nhận tăng 10,6% so với quý II/2024. LLR trung vị tăng 4,7% so với cùng kỳ, đạt 68,4%.

Xét theo nhóm, các ngân hàng quốc doanh tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ LLR vượt trội, cũng duy trì gia tăng bộ đệm theo quý. Đáng chú ý trong nhóm ngân hàng tư nhân là MB khi ghi nhận LLR tăng mạnh như họ kỳ vọng thời điểm cuối quý III/2024 là đưa LLR về mức tiệp cận 100%.

Dự báo nợ xấu ngành ngân hàng năm 2025 tăng nhẹ trước khi tiếp tục xu hướng giảm
Dự báo diễn biến nợ xấu ngành ngân hàng năm 2025. Ảnh minh hoạ.

"Đối với riêng nhóm các ngân hàng chúng tôi theo dõi, chỉ còn ACB và Sacombank vẫn có áp lực trích lập tương đối trong thời gian tới, khi tỷ lệ của nhóm này đang thấp hơn so với giai đoạn trước đây. Chi phí tín dụng của VPBank vẫn nhiều khả năng duy trì ở mức cao, khi ngân hàng còn dư nợ khoảng 1.000 tỷ đối với trái phiếu đặc biệt (VAMC)" - Mirae Asset nêu rõ.

Cùng chung quan điểm, theo ông Lê Hoài Ân, CFA Founder IFSS, chuyên gia đào tạo và tư vấn hoạt động ngân hàng, xét theo nhóm ngân hàng, khối ngân hàng quốc doanh có mức bao phủ nợ xấu tốt hơn hẳn so với các ngân hàng tư nhân.

Áp lực nợ xấu với nhóm ngân hàng nhỏ

"Nhóm ngân hàng thương mại khác tích cực tăng trích lập dự phòng, nhưng chất lượng mức bao phủ nợ xấu vẫn còn nhiều vấn đề. Đáng chú ý, 07/11 ngân hàng trong nhóm này có tỷ lệ bao phủ nợ xấu dưới 50%. Sự kết thúc Thông tư 02 sẽ đặt áp lực lớn lên các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp, đặc biệt là những ngân hàng BVBank, PGBank và NCB" - ông Ân đánh giá.

Về diễn biến trích lập dự phòng rủi ro, theo ông Ân, nửa đầu năm 2024, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhóm này giảm mạnh từ 188,46% xuống 144,53% nhưng phục hồi lên 165,44% vào cuối năm, tương đương bổ sung hơn 24.000 tỷ đồng chi phí dự phòng trong quý III-IV/2024.

Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân có xu hướng đi ngang. Trong đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhóm ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp đạt 76,08%, nhóm cho vay cá nhân đạt 61,84%, còn nhóm ngân hàng thương mại khác duy trì mức dưới 50%, đến cuối năm 2024 chỉ nhích nhẹ lên 35,24%.

Ngoài ra, rủi ro ngoại bảng giảm đáng kể. Theo Mirae Asset, tính đến cuối quý III/2024, có khoảng 126,4 nghìn tỷ dư nợ được tái cơ cấu theo Thông tư 02 và Thông tư 06 về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ tương đương 0,87% dư nợ toàn hệ thống.

Tỷ lệ này đang giảm dần theo chia sẻ của các ngân hàng tại kỳ báo cáo kết quả kinh doanh, đa phần ghi nhận tỷ lệ này dưới 0,5% cuối năm 2024.

Dư nợ này cũng chiếm khoảng từ 0-0,2% tại các ngân hàng tư nhân chúng tôi theo dõi, giảm đáng kể trong quý IV/2024, trừ VPBank còn khoảng hơn 1%.

“Dựa trên cơ sở quá khứ, tỷ lệ phát sinh nợ xấu từ các khoản tái cơ cấu là rất thấp và tỷ trọng hiện tại còn lại không nhiều, vì vậy, áp lực đối với chi phí trích lập sẽ không quá lớn và cũng không quá ảnh hưởng tới thu nhập từ lãi của các ngân hàng như nhiều lo ngại” - nhóm phân tích nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17754 18027 18603
CAD 18515 18792 19409
CHF 32634 33018 33658
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34372 34764 35698
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14931 15519
SGD 19986 20268 20795
THB 718 781 835
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80