Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối năm 2024, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại tăng 3,4% so với cuối năm 2023, lên gần 734 nghìn tỷ đồng song tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc xử lý nợ xấu, nhà điều hành đang nghiên cứu và xem xét luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 sau hơn 1 năm hết hiệu lực, nhằm tháo gỡ vướng mắc khi thu giữ tài sản đảm bảo và xử lý nợ xấu hiệu quả.
aa
Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Đánh giá về chất lượng tín dụng năm vừa qua, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại là 733.904,9 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cuối năm 2023, chiếm 94,8% nợ xấu nội bảng toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu 4,35%, giảm so với tỷ lệ 4,89% vào cuối năm 2023. Trường hợp không bao gồm 5 ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt thì tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại là 1,69%.

Toàn cảnh bức tranh nợ xấu ngành Ngân hàng

Theo thông tin từ NHNN, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nội bảng cao có thể kể đến như 4 ngân hàng mới được chuyển giao bắt buộc là: Ngân hàng Số Vikki (tên cũ DongA Bank) có tỷ lệ nợ xấu 46,1%; VCBNeo (tên cũ CBBank) 43,76%; GPBank 15,87%; MBV (tên cũ OceanBank) 7,18%. Đáng chú ý, Ngân hàng SCB đang trong diện kiểm soát đặc biệt có tỷ lệ nợ xấu lên tới 98,5%.

Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nợ xấu

Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang tập trung xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. 4 ngân hàng yếu kém đã được chuyển giao bắt buộc, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoản nợ tồn đọng cần giải quyết. NHNN đã trình Chính phủ phương án cho vay đặc biệt để hỗ trợ các ngân hàng này cũng như về lâu dài mong muốn Chính phủ xem xét luật hóa Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu, giúp hệ thống ngân hàng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Bà Nguyễn Thị Hồng - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Còn trong nhóm các ngân hàng niêm yết, theo thống kê của TBTCVN từ báo cáo tài chính các ngân hàng, Ngân hàng Quốc dân (NCB) có tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5/cho vay khách hàng) lớn nhất 16,69%; VPBank 4,2%; OCB 4,02%; ABBank 3,74%; VIB 3,51%...

Cụ thể, NCB có quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) là 13.907 tỷ đồng, tỷ lệ bao nợ xấu 8,6%, cải thiện hơn con số 6,5% cùng kỳ. VPBank có 29.070 tỷ đồng nợ xấu, chiếm 4,2% dư nợ cho vay khách hàng, với bộ đệm dự phòng cũng cải thiện lên 56,17%, cao hơn cùng kỳ (52,1%). Quy mô nợ xấu tại VIB là 11.373 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu 3,51%, tăng 35,81% cùng kỳ song tỷ lệ bao nợ xấu giảm còn 50,06%.

Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm song quy mô nợ nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết tiếp tục phình to, tăng 15,85% cùng kỳ, lên 228.566,53 tỷ đồng. Trong đó, có 4/27 nhà băng giảm nhẹ quy mô nợ xấu như: NCB, TPBank, VietABank và OCB. Còn lại hầu hết các ngân hàng đều đối diện với quy mô tổng nợ xấu gia tăng. Trong đó, top 3 ngân hàng tăng mạnh nhất là: BacABank tăng 48,43% lên mức 1.359 tỷ đồng; ACB tăng 46,92%, tương ứng tăng gần 2.800 tỷ đồng nợ xấu lên 8.650 tỷ đồng; Saigonbank tăng 43,66% lên 582 tỷ đồng.

Đầu năm 2025, các ngân hàng tiếp tục miệt mài rao bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và giảm gánh nặng nợ xấu. Hiện một nhà băng đang rao bán quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 528447 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 19876 do UBND TP. Đà Nẵng cấp ngày 23/12/2013 cho Doanh nghiệp tư nhân Lệ Nim (nay là Công ty TNHH Lệ Nim), với giá khởi điểm 73,2 tỷ đồng.

Hay 3 lô đất có địa chỉ tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP. HCM có diện tích từ 290m2 - 2.285m2 cũng được rao bán với giá khởi điểm 93,6 tỷ đồng. Đây là tài sản đảm bảo cho khoản nợ của Công ty TNHH TM DV ASV tạm tính đến ngày 20/1/2025 là hơn 105 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 68,9 tỷ đồng, còn lại là nợ lãi.

Tháo gỡ vướng mắc, sớm luật hóa Nghị quyết 42

Chia sẻ tại hội nghị Chính phủ làm việc với các ngân hàng thương mại đầu năm, lãnh đạo VPBank cho rằng, vấn đề xử lý nợ xấu được nêu ra tại nhiều cuộc họp các cấp khác nhau, trong đó, nhiều ngân hàng đề nghị luật hóa giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (đã hết hiệu lực từ ngày 31/12/2023). Bởi khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực khiến việc các ngân hàng gặp khó khăn với gần 200 nghìn tỷ tài sản tồn đọng, thậm chí thực tế còn lớn hơn.

Thời gian qua, theo lãnh đạo VPBank, nhiều khách hàng gặp khó khăn khi trả nợ, chây ỳ chậm trả nợ, tới khi khởi kiện thì tỷ lệ khách hàng quay lại đàm phán với ngân hàng tăng gấp 3 lần. Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa tiếp nhận chưa đến 30% hồ sơ vì quá tải. Vì vậy, ngân hàng cần được tháo gỡ các thủ tục, vướng mắc và có quyền đòi nợ chính đáng, hợp pháp.

Cùng chung mối bận tâm, lãnh đạo Agribank cho rằng thời gian qua, mặc dù ngân hàng triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu, tuy nhiên, nợ xấu vẫn có xu hướng phát sinh tăng trong bối cảnh khó khăn chung của toàn ngành, đặc biệt do ảnh hưởng của cơn bão số 3, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.

Trong bối cảnh chỉ còn 1 năm thực hiện phương án cơ cấu lại Agribank, theo lãnh đạo Agribank, việc thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu xuống dưới 3% gặp rất nhiều thách thức.

"Việc xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ xấu của ngành Ngân hàng cũng như Agribank gặp nhiều vướng mắc, chưa được luật hóa đầy đủ. Agribank đề nghị Chính phủ, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền có cơ chế, quy định phù hợp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, hỗ trợ các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý để xử lý triệt để nợ xấu" - lãnh đạo Agribank mong mỏi.

Cũng theo lãnh đạo VIB, để có thể hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng thời gian tới, ngân hàng mong muốn hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu được hoàn thiện. Hiện việc xử lý tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu tiếp tục gặp khó khăn vướng mắc, khi Nghị quyết 42 không được luật hóa, gây rủi ro rất lớn cho ngành Ngân hàng. VIB cũng như các ngân hàng tin tưởng khi quyền hợp pháp của chủ nợ được đảm bảo, ngành Ngân hàng sẽ tăng khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp và người dân, tiết giảm chi phí tín dụng của người vay và các tổ chức tín dụng sẽ mạnh dạn cho vay với lãi suất phù hợp.

Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu mới phát sinh

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) triển khai năm nay là tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp tại Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu của đề án và chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nghiêm túc, hiệu quả đề án đã được phê duyệt. NHNN tiếp tục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại và thực hiện có hiệu quả phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém.

"Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng; tập trung thanh tra, giám sát các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro" - lãnh đạo NHNN nêu rõ.

Cùng với đó, phòng, chống, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; khai thác tối đa hệ thống thông tin hỗ trợ giám sát từ xa và nguồn thông tin, dữ liệu sẵn có nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.

NHNN cũng được lãnh đạo Chính phủ giao khẩn trương xây dựng hồ sơ, trình Quốc hội trong kỳ họp tháng 5/2025 để luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 18/5, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.131 đồng. Trong khi USD tự do lên quanh 26.480 - 26.530 VND/USD, tăng mạnh 120 - 140 đồng hai chiều. Chỉ số DXY giao dịch quanh 99 điểm, ở mức cao trong 5 tuần gần đây, khi nhà đầu tư ngày càng lo ngại áp lực lạm phát tại Mỹ gia tăng, khiến khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 ▲30K 16,380 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,030 ▲130K 15,230 ▲130K
Nguyên Liệu 99.9 14,980 ▲130K 15,180 ▲130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Hà Nội - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Miền Tây - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 ▲8K 16,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 ▲8K 16,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cập nhật: 18/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80