Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối năm 2024, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại tăng 3,4% so với cuối năm 2023, lên gần 734 nghìn tỷ đồng song tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc xử lý nợ xấu, nhà điều hành đang nghiên cứu và xem xét luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 sau hơn 1 năm hết hiệu lực, nhằm tháo gỡ vướng mắc khi thu giữ tài sản đảm bảo và xử lý nợ xấu hiệu quả.
aa
Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Đánh giá về chất lượng tín dụng năm vừa qua, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại là 733.904,9 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cuối năm 2023, chiếm 94,8% nợ xấu nội bảng toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu 4,35%, giảm so với tỷ lệ 4,89% vào cuối năm 2023. Trường hợp không bao gồm 5 ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt thì tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại là 1,69%.

Toàn cảnh bức tranh nợ xấu ngành Ngân hàng

Theo thông tin từ NHNN, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nội bảng cao có thể kể đến như 4 ngân hàng mới được chuyển giao bắt buộc là: Ngân hàng Số Vikki (tên cũ DongA Bank) có tỷ lệ nợ xấu 46,1%; VCBNeo (tên cũ CBBank) 43,76%; GPBank 15,87%; MBV (tên cũ OceanBank) 7,18%. Đáng chú ý, Ngân hàng SCB đang trong diện kiểm soát đặc biệt có tỷ lệ nợ xấu lên tới 98,5%.

Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nợ xấu

Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang tập trung xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. 4 ngân hàng yếu kém đã được chuyển giao bắt buộc, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoản nợ tồn đọng cần giải quyết. NHNN đã trình Chính phủ phương án cho vay đặc biệt để hỗ trợ các ngân hàng này cũng như về lâu dài mong muốn Chính phủ xem xét luật hóa Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu, giúp hệ thống ngân hàng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Bà Nguyễn Thị Hồng - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Còn trong nhóm các ngân hàng niêm yết, theo thống kê của TBTCVN từ báo cáo tài chính các ngân hàng, Ngân hàng Quốc dân (NCB) có tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5/cho vay khách hàng) lớn nhất 16,69%; VPBank 4,2%; OCB 4,02%; ABBank 3,74%; VIB 3,51%...

Cụ thể, NCB có quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) là 13.907 tỷ đồng, tỷ lệ bao nợ xấu 8,6%, cải thiện hơn con số 6,5% cùng kỳ. VPBank có 29.070 tỷ đồng nợ xấu, chiếm 4,2% dư nợ cho vay khách hàng, với bộ đệm dự phòng cũng cải thiện lên 56,17%, cao hơn cùng kỳ (52,1%). Quy mô nợ xấu tại VIB là 11.373 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu 3,51%, tăng 35,81% cùng kỳ song tỷ lệ bao nợ xấu giảm còn 50,06%.

Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm song quy mô nợ nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết tiếp tục phình to, tăng 15,85% cùng kỳ, lên 228.566,53 tỷ đồng. Trong đó, có 4/27 nhà băng giảm nhẹ quy mô nợ xấu như: NCB, TPBank, VietABank và OCB. Còn lại hầu hết các ngân hàng đều đối diện với quy mô tổng nợ xấu gia tăng. Trong đó, top 3 ngân hàng tăng mạnh nhất là: BacABank tăng 48,43% lên mức 1.359 tỷ đồng; ACB tăng 46,92%, tương ứng tăng gần 2.800 tỷ đồng nợ xấu lên 8.650 tỷ đồng; Saigonbank tăng 43,66% lên 582 tỷ đồng.

Đầu năm 2025, các ngân hàng tiếp tục miệt mài rao bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và giảm gánh nặng nợ xấu. Hiện một nhà băng đang rao bán quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 528447 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 19876 do UBND TP. Đà Nẵng cấp ngày 23/12/2013 cho Doanh nghiệp tư nhân Lệ Nim (nay là Công ty TNHH Lệ Nim), với giá khởi điểm 73,2 tỷ đồng.

Hay 3 lô đất có địa chỉ tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP. HCM có diện tích từ 290m2 - 2.285m2 cũng được rao bán với giá khởi điểm 93,6 tỷ đồng. Đây là tài sản đảm bảo cho khoản nợ của Công ty TNHH TM DV ASV tạm tính đến ngày 20/1/2025 là hơn 105 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 68,9 tỷ đồng, còn lại là nợ lãi.

Tháo gỡ vướng mắc, sớm luật hóa Nghị quyết 42

Chia sẻ tại hội nghị Chính phủ làm việc với các ngân hàng thương mại đầu năm, lãnh đạo VPBank cho rằng, vấn đề xử lý nợ xấu được nêu ra tại nhiều cuộc họp các cấp khác nhau, trong đó, nhiều ngân hàng đề nghị luật hóa giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (đã hết hiệu lực từ ngày 31/12/2023). Bởi khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực khiến việc các ngân hàng gặp khó khăn với gần 200 nghìn tỷ tài sản tồn đọng, thậm chí thực tế còn lớn hơn.

Thời gian qua, theo lãnh đạo VPBank, nhiều khách hàng gặp khó khăn khi trả nợ, chây ỳ chậm trả nợ, tới khi khởi kiện thì tỷ lệ khách hàng quay lại đàm phán với ngân hàng tăng gấp 3 lần. Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa tiếp nhận chưa đến 30% hồ sơ vì quá tải. Vì vậy, ngân hàng cần được tháo gỡ các thủ tục, vướng mắc và có quyền đòi nợ chính đáng, hợp pháp.

Cùng chung mối bận tâm, lãnh đạo Agribank cho rằng thời gian qua, mặc dù ngân hàng triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu, tuy nhiên, nợ xấu vẫn có xu hướng phát sinh tăng trong bối cảnh khó khăn chung của toàn ngành, đặc biệt do ảnh hưởng của cơn bão số 3, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.

Trong bối cảnh chỉ còn 1 năm thực hiện phương án cơ cấu lại Agribank, theo lãnh đạo Agribank, việc thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu xuống dưới 3% gặp rất nhiều thách thức.

"Việc xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ xấu của ngành Ngân hàng cũng như Agribank gặp nhiều vướng mắc, chưa được luật hóa đầy đủ. Agribank đề nghị Chính phủ, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền có cơ chế, quy định phù hợp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, hỗ trợ các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý để xử lý triệt để nợ xấu" - lãnh đạo Agribank mong mỏi.

Cũng theo lãnh đạo VIB, để có thể hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng thời gian tới, ngân hàng mong muốn hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu được hoàn thiện. Hiện việc xử lý tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu tiếp tục gặp khó khăn vướng mắc, khi Nghị quyết 42 không được luật hóa, gây rủi ro rất lớn cho ngành Ngân hàng. VIB cũng như các ngân hàng tin tưởng khi quyền hợp pháp của chủ nợ được đảm bảo, ngành Ngân hàng sẽ tăng khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp và người dân, tiết giảm chi phí tín dụng của người vay và các tổ chức tín dụng sẽ mạnh dạn cho vay với lãi suất phù hợp.

Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu mới phát sinh

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) triển khai năm nay là tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp tại Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu của đề án và chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nghiêm túc, hiệu quả đề án đã được phê duyệt. NHNN tiếp tục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại và thực hiện có hiệu quả phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém.

"Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng; tập trung thanh tra, giám sát các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro" - lãnh đạo NHNN nêu rõ.

Cùng với đó, phòng, chống, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; khai thác tối đa hệ thống thông tin hỗ trợ giám sát từ xa và nguồn thông tin, dữ liệu sẵn có nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.

NHNN cũng được lãnh đạo Chính phủ giao khẩn trương xây dựng hồ sơ, trình Quốc hội trong kỳ họp tháng 5/2025 để luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý III năm 2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 9 tháng đạt 47.928 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 245 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng gần 65%, trở thành "điểm sáng". Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.238,7 tỷ đồng, duy trì đà tăng 16,7% sau quá trình tái cơ cấu danh mục bảo hiểm nhiều năm.
VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Hà Nội - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đà Nẵng - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Miền Tây - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Tây Nguyên - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Nghệ An 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Thái Bình 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▼120K 13,900 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▼120K 13,900 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▼120K 13,900 ▼120K
Trang sức 99.9 13,180 ▼120K 13,780 ▼120K
Trang sức 99.99 13,190 ▼120K 13,790 ▼120K
Vàng 99.9 12,650 ▼200K
Vàng 99.99 12,800 ▼240K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 ▼1248K 13,902 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 ▼1248K 13,903 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 ▼25K 1,358 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 ▼25K 1,359 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 ▼25K 1,348 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 ▼2476K 133,465 ▼2476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 ▼84189K 10,126 ▼93009K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 ▼1700K 91,823 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 ▼1525K 82,386 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 ▼1458K 78,746 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 ▲41806K 56,367 ▲50626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cập nhật: 31/10/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/10/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30