Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối năm 2024, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại tăng 3,4% so với cuối năm 2023, lên gần 734 nghìn tỷ đồng song tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc xử lý nợ xấu, nhà điều hành đang nghiên cứu và xem xét luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 sau hơn 1 năm hết hiệu lực, nhằm tháo gỡ vướng mắc khi thu giữ tài sản đảm bảo và xử lý nợ xấu hiệu quả.
aa
Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Đánh giá về chất lượng tín dụng năm vừa qua, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, nợ xấu nội bảng các ngân hàng thương mại là 733.904,9 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cuối năm 2023, chiếm 94,8% nợ xấu nội bảng toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu 4,35%, giảm so với tỷ lệ 4,89% vào cuối năm 2023. Trường hợp không bao gồm 5 ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt thì tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại là 1,69%.

Toàn cảnh bức tranh nợ xấu ngành Ngân hàng

Theo thông tin từ NHNN, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nội bảng cao có thể kể đến như 4 ngân hàng mới được chuyển giao bắt buộc là: Ngân hàng Số Vikki (tên cũ DongA Bank) có tỷ lệ nợ xấu 46,1%; VCBNeo (tên cũ CBBank) 43,76%; GPBank 15,87%; MBV (tên cũ OceanBank) 7,18%. Đáng chú ý, Ngân hàng SCB đang trong diện kiểm soát đặc biệt có tỷ lệ nợ xấu lên tới 98,5%.

Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nợ xấu

Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang tập trung xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. 4 ngân hàng yếu kém đã được chuyển giao bắt buộc, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoản nợ tồn đọng cần giải quyết. NHNN đã trình Chính phủ phương án cho vay đặc biệt để hỗ trợ các ngân hàng này cũng như về lâu dài mong muốn Chính phủ xem xét luật hóa Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu, giúp hệ thống ngân hàng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Bà Nguyễn Thị Hồng - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Còn trong nhóm các ngân hàng niêm yết, theo thống kê của TBTCVN từ báo cáo tài chính các ngân hàng, Ngân hàng Quốc dân (NCB) có tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5/cho vay khách hàng) lớn nhất 16,69%; VPBank 4,2%; OCB 4,02%; ABBank 3,74%; VIB 3,51%...

Cụ thể, NCB có quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) là 13.907 tỷ đồng, tỷ lệ bao nợ xấu 8,6%, cải thiện hơn con số 6,5% cùng kỳ. VPBank có 29.070 tỷ đồng nợ xấu, chiếm 4,2% dư nợ cho vay khách hàng, với bộ đệm dự phòng cũng cải thiện lên 56,17%, cao hơn cùng kỳ (52,1%). Quy mô nợ xấu tại VIB là 11.373 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu 3,51%, tăng 35,81% cùng kỳ song tỷ lệ bao nợ xấu giảm còn 50,06%.

Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm song quy mô nợ nhóm 3 - 5 tại các ngân hàng niêm yết tiếp tục phình to, tăng 15,85% cùng kỳ, lên 228.566,53 tỷ đồng. Trong đó, có 4/27 nhà băng giảm nhẹ quy mô nợ xấu như: NCB, TPBank, VietABank và OCB. Còn lại hầu hết các ngân hàng đều đối diện với quy mô tổng nợ xấu gia tăng. Trong đó, top 3 ngân hàng tăng mạnh nhất là: BacABank tăng 48,43% lên mức 1.359 tỷ đồng; ACB tăng 46,92%, tương ứng tăng gần 2.800 tỷ đồng nợ xấu lên 8.650 tỷ đồng; Saigonbank tăng 43,66% lên 582 tỷ đồng.

Đầu năm 2025, các ngân hàng tiếp tục miệt mài rao bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và giảm gánh nặng nợ xấu. Hiện một nhà băng đang rao bán quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 528447 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 19876 do UBND TP. Đà Nẵng cấp ngày 23/12/2013 cho Doanh nghiệp tư nhân Lệ Nim (nay là Công ty TNHH Lệ Nim), với giá khởi điểm 73,2 tỷ đồng.

Hay 3 lô đất có địa chỉ tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP. HCM có diện tích từ 290m2 - 2.285m2 cũng được rao bán với giá khởi điểm 93,6 tỷ đồng. Đây là tài sản đảm bảo cho khoản nợ của Công ty TNHH TM DV ASV tạm tính đến ngày 20/1/2025 là hơn 105 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 68,9 tỷ đồng, còn lại là nợ lãi.

Tháo gỡ vướng mắc, sớm luật hóa Nghị quyết 42

Chia sẻ tại hội nghị Chính phủ làm việc với các ngân hàng thương mại đầu năm, lãnh đạo VPBank cho rằng, vấn đề xử lý nợ xấu được nêu ra tại nhiều cuộc họp các cấp khác nhau, trong đó, nhiều ngân hàng đề nghị luật hóa giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (đã hết hiệu lực từ ngày 31/12/2023). Bởi khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực khiến việc các ngân hàng gặp khó khăn với gần 200 nghìn tỷ tài sản tồn đọng, thậm chí thực tế còn lớn hơn.

Thời gian qua, theo lãnh đạo VPBank, nhiều khách hàng gặp khó khăn khi trả nợ, chây ỳ chậm trả nợ, tới khi khởi kiện thì tỷ lệ khách hàng quay lại đàm phán với ngân hàng tăng gấp 3 lần. Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa tiếp nhận chưa đến 30% hồ sơ vì quá tải. Vì vậy, ngân hàng cần được tháo gỡ các thủ tục, vướng mắc và có quyền đòi nợ chính đáng, hợp pháp.

Cùng chung mối bận tâm, lãnh đạo Agribank cho rằng thời gian qua, mặc dù ngân hàng triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu, tuy nhiên, nợ xấu vẫn có xu hướng phát sinh tăng trong bối cảnh khó khăn chung của toàn ngành, đặc biệt do ảnh hưởng của cơn bão số 3, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.

Trong bối cảnh chỉ còn 1 năm thực hiện phương án cơ cấu lại Agribank, theo lãnh đạo Agribank, việc thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu xuống dưới 3% gặp rất nhiều thách thức.

"Việc xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ xấu của ngành Ngân hàng cũng như Agribank gặp nhiều vướng mắc, chưa được luật hóa đầy đủ. Agribank đề nghị Chính phủ, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền có cơ chế, quy định phù hợp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, hỗ trợ các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý để xử lý triệt để nợ xấu" - lãnh đạo Agribank mong mỏi.

Cũng theo lãnh đạo VIB, để có thể hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng thời gian tới, ngân hàng mong muốn hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu được hoàn thiện. Hiện việc xử lý tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu tiếp tục gặp khó khăn vướng mắc, khi Nghị quyết 42 không được luật hóa, gây rủi ro rất lớn cho ngành Ngân hàng. VIB cũng như các ngân hàng tin tưởng khi quyền hợp pháp của chủ nợ được đảm bảo, ngành Ngân hàng sẽ tăng khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp và người dân, tiết giảm chi phí tín dụng của người vay và các tổ chức tín dụng sẽ mạnh dạn cho vay với lãi suất phù hợp.

Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu mới phát sinh

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) triển khai năm nay là tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp tại Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu của đề án và chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nghiêm túc, hiệu quả đề án đã được phê duyệt. NHNN tiếp tục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại và thực hiện có hiệu quả phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém.

"Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng; tập trung thanh tra, giám sát các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro" - lãnh đạo NHNN nêu rõ.

Cùng với đó, phòng, chống, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; khai thác tối đa hệ thống thông tin hỗ trợ giám sát từ xa và nguồn thông tin, dữ liệu sẵn có nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.

NHNN cũng được lãnh đạo Chính phủ giao khẩn trương xây dựng hồ sơ, trình Quốc hội trong kỳ họp tháng 5/2025 để luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80