Dự báo trong quý I/2025, nhiều ngân hàng "ngược chiều" tăng trưởng

(TBTCO) - SSI Research dự báo quý I/2025 là giai đoạn bứt phá lợi nhuận của nhiều ngân hàng, dẫn đầu là Sacombank với mức tăng trưởng 51%. VietinBank, VPBank, HDBank cũng được kỳ vọng tăng trưởng hai con số. Ngược lại, vẫn còn không ít ngân hàng "đi lùi" khi tăng trưởng sụt giảm so với cùng kỳ và quý trước.
aa

"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024

Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) vừa đưa ra ước tính kết quả kinh doanh quý I/2025 của 39 doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu, trong đó có 13 ngân hàng.

SSI Research dự báo quý I/2025 chứng kiến sự bứt phá lợi nhuận của nhiều ngân hàng, dẫn đầu là Sacombank với mức tăng trưởng mạnh mẽ 51%, nhờ kiểm soát tốt chi phí dự phòng và duy trì chất lượng tài sản ổn định. Cùng với đó, NIM (biên lãi ròng) dự kiến có thể phục hồi nhẹ so với quý trước giúp lợi nhuận trước thuế đạt 4 nghìn tỷ đồng, tăng 51% cùng kỳ nhưng giảm 14% so với quý trước).

Vẫn có ngân hàng "đi lùi" trong quý I/2025

Theo dự báo của SSI Research, có 11 nhà băng sẽ ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng dương so với cùng kỳ trong quý I/2025 và một ngân hàng lợi nhuận đi ngang (VIB) và một ngân hàng có lợi nhuận giảm (OCB). Tuy nhiên, so sánh với quý trước, có tới 9/13 ngân hàng tăng trưởng sụt giảm, chỉ có 4 nhà băng tăng trưởng khả quan, đó là: HDBank (18%); Techcombank (77%); Vietcombank (3%) và VIB (4%).

VietinBank và VPBank cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, lần lượt ước đạt 42% và 32%, với lợi nhuận trước thuế lần lượt đạt 8.800 tỷ đồng và 5.500 tỷ đồng, được thúc đẩy bởi tăng trưởng tín dụng tốt và nền lợi nhuận thấp trong quý I/2024.

Riêng VPBank, với những dầu hiệu hồi phục rõ rệt kể từ quý IV/2024 của FeCredit, SSI Research cho rằng, tiến độ giải ngân mới và thu từ nợ xấu đã xóa của công ty sẽ khá tích cực trong quý I/2025.

HDBank, MSB và Techcombank cũng được kỳ vọng có lợi nhuận tăng trưởng hai con số, nhờ tăng trưởng tín dụng tốt và NIM phục hồi. BIDV dự báo lãi quý I trong khoảng 8.000 - 8.500 tỷ đồng, nhờ tăng trưởng tín dụng ổn định (tăng 2% so với đầu năm) và NIM cải thiện nhẹ từ mức thấp trong quý I/2024.

MB và ACB cũng được dự báo có lợi nhuận tăng trưởng, nhờ tăng trưởng tín dụng và kiểm soát chi phí. TPBank dự kiến đạt 2.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, nhờ tăng trưởng tín dụng và kiểm soát chi phí hoạt động.

Dự báo trong quý I/2025, nhiều ngân hàng
Dự báo kết quả kinh doanh quý I/2025 của các ngân hàng trong quý I/2025. Nguồn: SSI Research.

Trong khi đó, SSI Research dự báo Vietcombank dự kiến đạt 11.000 - 11.300 tỷ đồng, thúc đẩy bởi tăng trưởng tín dụng khá tốt (tăng 3% từ đầu năm), NIM duy trì ổn định so với quý IV/2024 và chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Còn VIB dự báo lợi nhuận đi ngang khi tăng trưởng tín dụng dự báo đạt khoảng 3% từ đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu có thể tăng nhẹ trong quý I/2025 so với năm 2024.

Riêng OCB được dự báo lợi nhuận giảm do áp lực từ nợ xấu tạo áp lực lên chi phí trích lập dự phòng, do đó, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng ước đạt 1 nghìn tỷ đồng, giảm 18% so với cùng kỳ và giảm sâu 31% so với quý trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 14/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 14/09/2026 02:00
Ngân hàng