Dự kiến cuối tháng 11 sẽ hoàn thành xây dựng 3 sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp

Duy Thái
Sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) cơ bản đã được xây dựng và đang hoàn thiện ở khâu cuối. Theo dự kiến, cuối tháng 11 các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn thành việc xây dựng 3 sản phẩm để báo cáo Bộ Tài chính phối hợp với Bộ NN&PTNT xem xét phê duyệt, sớm đưa vào triển khai.
aa

>> Kỳ vọng về hiệu quả chính sách bảo hiểm nông nghiệp

>> Bộ Tài chính làm việc với địa phương về bảo hiểm nông nghiệp

>> Bộ Tài chính triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp ở Hà Giang

Trong hai ngày 21 - 22/11/2019, Đoàn công tác của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) đã có buổi làm việc với tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa về tiến độ triển khai thực hiện chính sách BHNN (theo Nghị định 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về BHNN và Quyết định 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ BHNN).

Đoàn công tác lần này có sự tham dự của đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, đại diện Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam và Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt.

Về phía các địa phương Nghệ An và Thanh Hóa, có lãnh đạo sở tài chính, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), lãnh đạo các huyện, cùng đại diện hội nông dân và một số doanh nghiệp bảo hiểm trên địa bàn hai tỉnh.

Chủ động triển khai bước đầu

Tại các buổi làm việc, các thành viên đoàn công tác và đại biểu của hai địa phương đều khẳng định sự cần thiết và vai trò quan trọng của chính sách BHNN đối với hỗ trợ thực hiện an sinh xã hội và chính sách phát triển của ngành Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là việc góp phần hỗ trợ cho người nông dân giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và dịch bệnh khi sản xuất nông nghiệp.

triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại Nghệ An
Toàn cảnh buổi làm việc về triển khai chính sách BHNN tại Nghệ An. Ảnh: DT.

Theo đó, căn cứ vào Nghị định số 58, nhất là sau khi Quyết định số 22 được ban hành, UBND hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã bước đầu triển khai thực hiện chính sách BHNN trên địa bàn.

Cụ thể hơn, tại Nghệ An, căn cứ vào quy định chính sách và hướng dẫn của Bộ Tài chính, UBND tỉnh đã có văn bản giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở NN&PTNT và các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở nắm bắt nội dung của chính sách BHNN, Sở Tài chính có văn bản lấy ý kiến của Sở NN&PTNT, Hội Nông dân tỉnh và các huyện, thị, thành đăng ký địa bàn, tổ chức tuyên truyền về BHNN. Sau khi có kết quả đăng ký, Sở Tài chính Nghệ An sẽ phối hợp với Sở NN&PTNT thẩm định trình UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt địa bàn triển khai và đối tượng được hỗ trợ phí BHNN.

Tại Thanh Hóa, UBND tỉnh đã giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Hội Nông dân và các đơn vị liên quan chủ động tổ chức tuyên truyền, triển khai. Cùng với việc ban hành văn bản quán triệt chủ trương, mục đích, ý nghĩa của thực hiện BHNN; đồng thời các đơn vị đã cử đại diện tham gia các hội thảo phổ biến về nội dung này.

Đặc biệt hơn, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành danh sách các xã, phường, thị trấn được hỗ trợ phí BHNN, bao gồm 391 xã, phường, thị trấn của 22 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.

Sớm ban hành sản phẩm và phí bảo hiểm cụ thể

Trong hai buổi làm việc, đoàn công tác đã thông tin tới các đại biểu về chính sách BHNN, trong đó điển hình là Nghị định số 58 và Quyết định 22; đồng thời cập nhật thông tin về công tác tuyên truyền, vận động, cũng như lộ trình xây dựng, phê chuẩn sản phẩm BHNN và các công việc liên quan.

Tại buổi làm việc, bên cạnh việc khẳng định BHNN là xu hướng tất yếu của sản xuất nông nghiệp, các đại biểu đã có nhiều ý kiến trao đổi liên quan tới chính sách cũng như thực tiễn đúc rút sau thời gian triển khai thí điểm trước đây.

Do đây là sản phẩm còn mới và đối tượng áp dụng là người nông dân sản xuất nông nghiệp và triển khai trên địa bàn rộng, nên đại diện các địa phương đã chia sẻ một số khó khăn và đưa ra các đề xuất để triển khai chính sách BHNN hiệu quả nhất, như: sớm xây dựng sản phẩm và mức phí bảo hiểm cụ thể, thông tin về doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tham gia triển khai, quy định công bố, xác nhận thiên tai, dịch bệnh, cũng như vấn đề hỗ trợ về kinh phí thực hiện,…

triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại Thanh Hóa
Đoàn công tác làm việc với tỉnh Thanh Hóa về triển khai chính sách BHNN. Ảnh: DT.

Tại buổi làm việc, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm và các thành viên trong đoàn đã giải đáp theo thẩm quyền các vướng mắc, khó khăn; đồng thời ghi nhận các kiến nghị của đại biểu để đưa ra giải pháp triển khai hiệu quả nhất.

Đại diện đoàn công tác và các đại biểu cũng đồng thuận việc cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền vận động, khẩn trương ban hành thông tư hướng dẫn về công bố, xác nhận thiên tai, dịch bệnh, cũng như cần sớm ban hành sản phẩm, mức phí cụ thể để triển khai chương trình kịp thời.

Phía đoàn công tác cũng cho biết, hiện nay các sản phẩm đã cơ bản được xây dựng (3 sản phẩm bảo hiểm cây lúa nước, bảo hiểm trâu - bò và bảo hiểm tôm), dự kiến để cuối tháng 11 các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) sẽ báo cáo Bộ Tài chính xem xét phê duyệt để sớm đưa vào triển khai trên thực tế.

Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt cũng chia sẻ, về cơ bản, các sản phẩm bảo hiểm được xây dựng dựa trên các sản phẩm đã được triển khai giai đoạn thực hiện thí điểm theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2011 - 2013), nhưng cũng sẽ có một số điều chỉnh để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn và điều kiện sản xuất hiện nay của bà con nông dân.

Liên quan đến quan tâm của địa phương về DNBH tham gia triển khai, đại diện đoàn công tác cho biết, theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 58, các DNBH đáp ứng đủ điều kiện theo quy định sẽ được phép triển khai thực hiện; đồng thời, việc triển khai BHNN theo chính sách hỗ trợ BHNN thực hiện theo hình thức “đồng bảo hiểm”.

Theo đó, các DNBH cùng chia sẻ trách nhiệm bảo hiểm nhằm chia sẻ rủi ro (do rủi ro trong sản xuất nông nghiệp diễn biến phức tạp, khó lường, có trường hợp gây ra thiệt hại lớn về quy mô, mức độ trên phạm vi địa bàn rộng) và có sự phân công cho một doanh nghiệp thực hiện vai trò đầu mối thực hiện cấp đơn bảo hiểm, quản lý hợp đồng, thực hiện thủ tục giải quyết bồi thường… để tăng cường hiệu quả thực hiện, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực và góp phần giảm phí bảo hiểm.

Cũng theo thông tin từ đoàn công tác, Chính phủ đã giao cho Bộ NN&PTNT xây dựng thông tư hướng dẫn về việc công bố thiên tai và xác định rủi ro dịch bệnh. Hiện nay, Bộ NN&PTNT đang xây dựng thông tư này và kỳ vọng sẽ sớm ban hành để các địa phương, tổ chức liên quan và doanh nghiệp có căn cứ cụ thể để triển khai chính sách BHNN./.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80