Forbes: Techcombank tiếp tục được khách hàng lựa chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam năm thứ 2 liên tiếp

(TBTCO) - Ngày 28/5/2025, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) tiếp tục trở thành “Ngân hàng số 1 Việt Nam” trong bảng xếp hạng “Ngân hàng tốt nhất Thế giới 2025” do Tạp chí Forbes công bố, dựa trên khảo sát độc lập của Công ty Nghiên cứu thị trường Statista với sự tham gia của ​​hơn 50.000 người trên 34 quốc gia. Đây là năm thứ hai liên tiếp, Techcombank giữ vững vị thế dẫn đầu, khẳng định niềm tin và mức độ hài lòng cao nhất của khách hàng.
aa

Khảo sát trên được thực hiện thông qua việc yêu cầu người tham gia đánh giá mức độ hài lòng đối với các ngân hàng nơi họ có tài khoản thanh toán, tiết kiệm hoặc được biết đến thông qua người thân giới thiệu. Đồng thời, khảo sát cũng đánh giá khả năng sẽ giới thiệu ngân hàng đó cho người thân hay bạn bè khác.

Theo Statista, có tổng số 12 ngân hàng tại Việt Nam được lựa chọn làm khảo sát, với 05 tiêu chí đánh giá bao gồm: Độ tin cậy; điều khoản và điều kiện (chẳng hạn như phí và lãi suất); dịch vụ khách hàng (thời gian chờ đợi và mức độ tư vấn nhiệt tình của nhân viên); Các dịch vụ qua kênh số; và chất lượng của dịch vụ tư vấn tài chính. Techcombank là ngân hàng được bầu chọn giữ vị trí số 1 tại Việt Nam.

Forbes: Techcombank tiếp tục được khách hàng lựa chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam năm thứ 2 liên tiếp
Techcombank Sinh lời tự động chiếm được niềm tin của hơn 3 triệu khách hàng chỉ sau hơn 1 năm ra mắt.

Chia sẻ về thành tựu này, bà Thái Minh Diễm Tú – Giám đốc Khối Tiếp thị Techcombank nhấn mạnh: “Chúng tôi xác định thương hiệu là nền tảng để củng cố niềm tin lâu dài của khách hàng – yếu tố quyết định vị thế và khả năng bứt phá trên hành trình vươn tầm khu vực của Techcombank. Chiến lược ‘brand led growth’ – tức là tăng trưởng được dẫn dắt bởi thương hiệu, ở đó, chúng tôi đặt khách hàng là trọng tâm, với kỳ vọng trở thành một phần quan trọng, đồng hành trong đời sống của khách hàng, nơi khách hàng gắn bó bằng cảm xúc, niềm tin vào thương hiệu.”

Forbes: Techcombank tiếp tục được khách hàng lựa chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam năm thứ 2 liên tiếp
Bà Thái Minh Diễm Tú

“Chúng tôi xác định thương hiệu là nền tảng để củng cố niềm tin lâu dài của khách hàng – yếu tố quyết định vị thế và khả năng bứt phá trên hành trình vươn tầm khu vực của Techcombank. Chiến lược ‘brand led growth’ – tức là tăng trưởng được dẫn dắt bởi thương hiệu, ở đó, chúng tôi đặt khách hàng là trọng tâm, với kỳ vọng trở thành một phần quan trọng, đồng hành trong đời sống của khách hàng, nơi khách hàng gắn bó bằng cảm xúc, niềm tin vào thương hiệu”.

Bà Tú cũng cho biết, trong kỷ nguyên nơi công nghệ và xu hướng thay đổi liên tục, điều duy nhất bền vững là khả năng giữ được lòng tin của khách hàng. Nghiên cứu của Harvard Business Review từng chỉ ra: chi phí để có được một khách hàng mới cao gấp 5 đến 25 lần so với việc giữ chân một khách hàng hiện tại. Sự trung thành vì thế không chỉ là thước đo thành công mà còn là yếu tố quyết định hiệu quả chi phí của một thương hiệu.

Việc được khách hàng bầu chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam một lần nữa khẳng định chiến lược khách hàng là trọng tâm, với năng lực số hóa vượt trội và hệ sinh thái đối tác ngày càng được mở rộng đã chiếm lĩnh lòng tin khách hàng của Techcombank. Những sản phẩm đổi mới như Techcombank Sinh Lời Tự Động hay chương trình khách hàng thân thiết Techcombank Rewards đã góp phần giúp khách hàng quản lý tài chính hiệu quả, tiêu dùng thông thái. Đồng thời, Ngân hàng tiếp tục củng cố chiến lược phát triển theo từng phân khúc, triển khai các giải pháp mới như C-Cash – nền tảng quản lý ngân quỹ, giúp Techcombank trở thành ngân hàng giao dịch chính của nhiều doanh nghiệp và mở rộng quan hệ hợp tác với khách hàng.

Forbes: Techcombank tiếp tục được khách hàng lựa chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam năm thứ 2 liên tiếp
Techcombank tiếp tục được khách hàng lựa chọn là Ngân hàng số 1 Việt Nam.

Bằng những trải nghiệm vượt kỳ vọng – từ không gian Private Lounge tại các sân bay quốc tế cho đến chuỗi sự kiện văn hóa nghệ thuật đỉnh cao như việc Techcombank đem nguyên tác vở diễn Opera Carmen 150 năm tuổi về Việt Nam, The Season Ballet, Đêm nhạc Dấu ấn vàng son quy tụ rất nhiều những nghệ sĩ nổi tiếng – Techcombank không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính, mà còn tạo ra những khoảnh khắc đáng nhớ, gắn liền thương hiệu với định vị ngân hàng "chiều khách" nhất hiện nay.

Là đơn vị tiên phong xóa bỏ phí giao dịch ngân hàng, năm 2024 Techcombank tiếp tục trở thành ngân hàng số một trên thị trường đối với các giao dịch chuyển tiền và nhận tiền qua kênh số hóa 24/7 và thanh toán QR - theo thống kê của NAPAS. Trong năm qua số lượng khách hàng cá nhân sử dụng Techcombank làm Ngân hàng giao dịch chính đã tăng khoảng 25%, nhờ vào chiến lược tương tác siêu cá nhân hóa và các sản phẩm dịch vụ dựa trên dữ liệu.

Nhờ đó, Techcombank đã chào đón thêm 1,9 triệu khách hàng mới trong năm 2024 và trở thành sự lựa chọn đáng tin cậy cho hơn 15,4 triệu khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, khẳng định vị thế dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực.

Thương hiệu Techcombank cũng vươn lên một tầm cao mới khi Chỉ số Sức khỏe Thương hiệu (BEI) tăng 61%, trở thành ngân hàng có chỉ số sức khỏe thương hiệu mạnh nhất tại Việt Nam vào thời điểm cuối năm 2024. Điểm NPS của Ngân hàng cũng đạt 91 trong quý IV, xếp thứ 2 toàn ngành. Những điểm số này phản ánh niềm tin tưởng sâu sắc của khách hàng vào thương hiệu Techcombank, cũng như sự sẵn lòng giới thiệu ngân hàng cung cấp dịch vụ cho người quen của mình, minh chứng cho cam kết của nhà băng trong việc đặt khách hàng ở vị trí trung tâm cho mọi hoạt động của ngân hàng.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, thương hiệu không chỉ là cái tên hay logo nhận diện, mà đã trở thành "tài sản chiến lược" của các ngân hàng. Từ HSBC, JPMorgan Chase đến DBS - những ngân hàng hàng đầu khu vực và thế giới - Techcombank cũng đều chọn cách xây dựng thương hiệu dựa trên niềm tin, cảm xúc và sự trung thành của khách hàng. Vì đó chính là tài sản giá trị nhất mà một thương hiệu có thể sở hữu./.

Ngân Vũ

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80