Gần 130 tỷ USD làm đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh

Trí Dũng
(TBTCO) - Theo Đề án phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, 2 thành phố đã sơ bộ tính toán nhu cầu và phương án huy động vốn để đầu tư toàn bộ mạng lưới đường sắt đô thị của 2 thành phố đến năm 2045. Cụ thể, tổng nhu cầu vốn của Hà Nội là khoảng 62,25 tỷ USD; TP. Hồ Chí Minh là khoảng 67,15 tỷ USD (bao gồm chi phí vận hành khai thác, lãi vay).
aa
Gần 130 tỷ USD làm đường sắt đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
Đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội). Ảnh: TL

Huy động khoảng 75 - 85% từ ngân sách địa phương

Tại Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) thông tin, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bắt đầu xây dựng từ năm 2007, tuy nhiên tiến độ triển khai chậm, không đáp ứng được nhu cầu vận tải. Đánh giá cho thấy, quá trình triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, đặc biệt là các quy định về trình tự, thủ tục đầu tư, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Giám sát và kiểm tra chặt chẽ để bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn đầu tư

Đối với các dự án thực hiện đầu tư sau năm 2035, tùy theo nhu cầu vận tải, khả năng nguồn lực đầu tư và khả năng kết nối, các UBND thành phố quyết định việc triển khai dự án sớm hơn. Bộ Giao thông vận tải và 2 thành phố đã rà soát, đề xuất các cơ chế giám sát và kiểm tra chặt chẽ để bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, tránh tình trạng tham nhũng và lãng phí nguồn lực.

Do đó, việc xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại hai thành phố là rất cần thiết và cấp bách để giải quyết "điểm nghẽn" về thể chế nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đầu tư hoàn thành mạng lưới đường sắt đô thị tại hai thành phố.

Theo Đề án phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, 2 thành phố đã sơ bộ tính toán nhu cầu và phương án huy động vốn để đầu tư toàn bộ mạng lưới đường sắt đô thị của hai thành phố đến năm 2045. Cụ thể, tổng nhu cầu vốn của Hà Nội là khoảng 62,25 tỷ USD; TP. Hồ Chí Minh là khoảng 67,15 tỷ USD (bao gồm chi phí vận hành khai thác, lãi vay).

Về phương án huy động vốn, trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực (bao gồm cả phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài), hai thành phố dự kiến huy động được khoảng 75 - 85% nguồn ngân sách địa phương cho đầu tư xây dựng toàn bộ mạng lưới đường sắt đô thị của hai thành phố đến năm 2045.

Bên cạnh đó, với định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới, trong đó phấn đấu tốc độ tăng trưởng cả nước đạt 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, việc bố trí vốn từ nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu, dự kiến khoảng 424.850 tỷ đồng trong 10 năm là khả thi để cân đối mà không tác động lớn đến ngân sách trung ương.

Phấn đấu làm hơn 1.100 km đường sắt đô thị

Theo kế hoạch phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, các dự án đầu tư trước 2035 gồm: tuyến 1: Ngọc Hồi - Yên Viên - Như Quỳnh (đoạn Ngọc Hồi - Yên Viên, đoạn Gia Lâm - Dương Xá); tuyến 2: Nội Bài - Thượng Đình - Bưởi (đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, đoạn Trần Hưng Đạo - Thượng Đình, đoạn Nam Thăng Long - Nội Bài, đoạn kéo dài đi Sóc Sơn); tuyến 2A: Cát Linh - Hà Đông - Xuân Mai (đoạn Cát Linh - Hà Đông đã đưa vào khai thác từ 6/11/2021, đoạn kéo dài đi Xuân Mai); tuyến 3: Trôi - Nhổn - Yên Sở (đoạn Nhổn - ga Hà Nội hiện đoạn Nhổn - Cầu Giấy đã đưa vào khai thác từ 8/8/2024, đoạn ga Hà Nội - Yên Sở, đoạn Nhổn - Trôi và kéo dài đi Sơn Tây); tuyến 4: Mê Linh - Sài Đồng - Liên Hà; tuyến 5: Văn Cao - Hòa Lạc; tuyến 6: Nội Bài - Ngọc Hồi; tuyến 7: Mê Linh - Hà Đông; tuyến 8: Sơn Đồng - Mai Dịch - Vành đai 3 - Lĩnh Nam - Dương Xá; tuyến vệ tinh: Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai.

Các dự án đầu tư sau năm 2035 gồm: tuyến 2: đoạn từ Trần Hưng Đạo - Chợ Mơ - Ngã Tư Sở - Hoàng Quốc Việt; tuyến 7: đoạn Mê Linh - Nội Bài; tuyến 1A: Ngọc Hồi - Sân bay thứ 2 phía Nam; tuyến 9: Mê Linh - Cổ Loa - Dương Xá; tuyến 10: Cát Linh - Láng Hạ - Lê Văn Lương - Yên Nghĩa; tuyến 11: Vành đai 2 - trục phía Nam - Sân bay thứ 2; tuyến 12: kéo dài tuyến vệ tinh từ Xuân Mai đi Phú Xuyên.

Tại TP. Hồ Chí Minh, các dự án đường sắt đô thị được đầu tư trước 2035 gồm: tuyến 1: Suối Tiên - Bến Thành - An Hạ (Bến Thành - Suối Tiên đã hoàn thành, dự kiến đưa vào khai thác từ 22/12/2024, Bến Thành - An Hạ); tuyến 2: Củ Chi - Quốc lộ 22 - An Sương - Bến Thành - Thủ Thiêm; tuyến 3: Hiệp Bình Phước - Bình Triệu - ngã 6 Cộng Hòa - Tân Kiên - An Hạ; tuyến 4: Đông Thạnh (Hóc Môn) - Sân bay Tân Sơn Nhất - Bến Thành - Nguyễn Hữu Thọ - Khu đô thị Hiệp Phước; tuyến 5: Long Trường - Xa lộ Hà Nội - cầu Sài Gòn - Bảy Hiền - Depo Đa Phước; tuyến số 6: Vành đai trong; tuyến 7: Tân Kiên - đường Nguyễn Văn Linh - Thủ Thiêm - Thảo Điền - Thanh Đa - khu công nghệ cao - Vinhomes Grand Park.

Các dự án đầu tư sau năm 2035 gồm: tuyến 8: Đa Phước - Phạm Hùng - Ngô Gia Tự - ga Sài Gòn - Công viên phần mềm Quang Trung - Hóc Môn - Bình Mỹ (Củ Chi); tuyến 9: An Hạ - Vĩnh Lộc - ga Sài Gòn - Bình Triệu; tuyến 10: Vành đai ngoài.

2 thành phố phấn đấu đến năm 2035 đưa vào khai thác 17 tuyến, đoạn tuyến đường sắt đô thị và đến năm 2045 đưa vào khai thác thêm 7 tuyến, 4 đoạn tuyến với tổng chiều dài thêm khoảng 355 km (Hà Nội phấn đấu hoàn thành đưa vào khai thác thêm 4 tuyến, kéo dài 3 tuyến với chiều dài khoảng 200 km; TP. Hồ Chí Minh, phấn đấu hoàn thành đưa vào khai thác thêm 3 tuyến với chiều dài khoảng 155 km) đảm nhận 35 - 50% thị phần vận tải hành khách công cộng 50 - 60% thị phần vận tải hành khách công cộng./.

Trí Dũng

Đọc thêm

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

(TBTCO) - Để đón đầu sự phát triển của thị trường kinh tế tầm thấp được dự báo đạt tỷ USD, Đà Nẵng sẵn sàng rót ngân sách, kiến tạo bệ phóng hạ tầng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách. Đây là nỗ lực nhằm tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các động lực chính cùng vận hành, sức chống chịu được cải thiện. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng tốc, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm và bài toán ổn định vĩ mô cũng khó hơn.
Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam không nên lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô, mà cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế và đẩy mạnh cải cách thể chế. Việt Nam vẫn có thể theo đuổi tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi ổn định vĩ mô, nếu lựa chọn đúng chính sách.
Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Nghị định số 200/2026/NĐ-CP mở rộng hành lang huy động và sử dụng vốn cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao yêu cầu về quản trị dòng tiền, công bố thông tin, giám sát sau phát hành và bảo vệ nhà đầu tư. Những quy định mới được cơ quan quản lý, công ty chứng khoán và doanh nghiệp kỳ vọng sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn trung, dài hạn, từng bước củng cố niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng

Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng

(TBTCO) - ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong thu hút FDI thế hệ mới, điều quan trọng nhất là phải chuyển nhanh các định hướng của Nghị quyết thành các chính sách cụ thể, có tính khả thi và có cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ.
Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

(TBTCO) - Minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, mà còn là đòi hỏi nội tại của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Quy định chính thức đưa thông tin chủ sở hữu hưởng lợi vào hệ thống đăng ký doanh nghiệp từ ngày 1/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, góp phần nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư, tăng hiệu quả quản trị doanh nghiệp và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, quản lý thuế cũng như bảo đảm tính liêm chính của thị trường.
Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

(TBTCO) - Từ ngày 1/9/2026, chào bán, phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng, theo quy định tại Nghị định số 284/2026/NĐ-CP.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Xem thêm