Giải ngân gói hỗ trợ theo Nghị quyết 116 có thể hoàn thành sớm

Thảo Miên
(TBTCVN) - Theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, dự kiến tiến độ triển khai các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 116/NQ-CP của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội là khả thi. Thậm chí, Tổng giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chỉ đạo cố gắng hoàn thành sớm hơn nếu như DN và người lao động tích cực phối hợp.
aa

Nguồn: Nghị quyết 116 Đồ họa: HỒNG VÂN

Nguồn: Nghị quyết 116 Đồ họa: Hồng Vân

Dữ liệu đã sẵn sàng

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về chính sách hỗ trợ người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Theo đó, NLĐ có tham gia BHTN sẽ được hỗ trợ từ 1,8 triệu đồng đến cao nhất 3,3 triệu đồng (tùy thời gian đóng BHTN). Theo Nghị quyết 116, NSDLĐ (không bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên) đang tham gia BHTN trước ngày 1/10/2021, sẽ được giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHTN trong vòng 12 tháng, kể từ ngày 1/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022.

Tại Nghị quyết 116, Chính phủ quy định, thời gian thực hiện việc hỗ trợ NLĐ từ ngày 1/10/2021 và hoàn thành chậm nhất vào ngày 31/12/2021. Mới đây, Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội (LĐTBXH) đặt ra quyết tâm hoàn thành việc triển khai gói hỗ trợ trong 1,5 tháng, tức là rút ngắn xuống một nửa thời gian so với yêu cầu triển khai thực hiện gói hỗ trợ này trong 3 tháng của Chính phủ. Còn về hỗ trợ cho NSDLĐ, Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc Dung khẳng định: "Phấn đấu trong khoảng một tuần sẽ hoàn thành việc hỗ trợ NSDLĐ".

Trả lời câu hỏi của phóng viên về thời gian thực hiện gói hỗ trợ này, từ góc độ cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ cùng Bộ LĐTBXH, ông Lê Hùng Sơn - Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXH) Việt Nam cho biết, dự kiến tiến độ triển khai các chính sách hỗ trợ của Bộ LĐTBXH là khả thi. Ông cho biết, ngay sau khi Nghị quyết số 116 của Chính phủ được ban hành, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, cũng như BHXH các địa phương sẵn sàng về nguồn dữ liệu để xác định các đối tượng cũng như mức hưởng; về lực lượng, con người, nguồn kinh phí để phục vụ việc triển khai, chi trả các chính sách hỗ trợ.

Đại diện BHXH Việt Nam nhấn mạnh: “Tiến độ triển khai các chính sách hỗ trợ của Bộ LĐTBXH theo dự kiến là khả thi. Thậm chí, về phía ngành BHXH Việt Nam, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam chỉ đạo sẽ cố gắng hoàn thành sớm hơn nếu như doanh nghiệp (DN) và NLĐ tích cực phối hợp với cơ quan BHXH. Ông cũng cho biết, về phía BHXH Việt Nam công tác triển khai đã sẵn sàng, nhưng có khó khăn nhất định là khoảng 2,5 triệu lao động đang bảo lưu BHTN hiện nay đang tản mạn về các địa phương. Chính vì thế sự vào cuộc của các cơ quan truyền thông, cấp uỷ các chính quyền địa phương để tuyên truyền, phổ biến cho NLĐ thuộc đối tượng hưởng hỗ trợ chủ động đến với cơ quan BHXH cấp tỉnh, huyện là rất quan trọng. Đây là nhân tố quyết định việc có hoàn thành việc triển khai gói hỗ trợ đúng tiến độ hay không.

Chi trả hỗ trợ cho người lao động qua tài khoản cá nhân

Về phương án triển khai chi trả cho NLĐ, ông Lê Hùng Sơn thông tin, đối với NLĐ hiện đang tham gia BHTN tại DN, cơ quan BHXH sẽ chi trả qua tài khoản cá nhân. Trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, việc chi trả chính sách hỗ trợ cho NLĐ qua tài khoản vừa đảm bảo kịp thời, minh bạch đến tận tay NLĐ vừa đáp ứng chủ trương không dùng tiền mặt của Chính phủ cũng như đảm bảo tốt việc phòng, chống dịch Covid-19, tránh tiếp xúc trực tiếp.

Theo đó, NLĐ đang làm việc tại DN chỉ cần cung cấp cho DN số tài khoản cá nhân; còn với những thông tin liên quan đến nhân thân cá nhân như số chứng minh nhân dân/căn cước công dân và thời gian tham gia BHTN của NLĐ cơ quan BHXH sẽ in sẵn ra để NLĐ đối soát. Một số trường hợp đặc biệt khi NLĐ không thể mở được tài khoản cá nhân, cơ quan BHXH sẽ chi trả qua DN. Tuy nhiên, để đảm bảo sự kịp thời và minh bạch, BHXH Việt Nam khuyến nghị NLĐ nên nhanh chóng mở tài khoản cá nhân qua hệ thống các ngân hàng để có thể nhận được nhanh nhất và chính xác nhất. Đối với NLĐ bảo lưu thời gian tham gia BHTN từ 1/1/2020 đến nay, những NLĐ đã ngừng việc, tạm hoãn hợp đồng lao động không ở DN, đã về các địa phương sẽ được cơ quan BHXH tỉnh/huyện sẵn sàng tiếp nhận đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ của NLĐ, không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

Để triển khai chính sách này một cách minh bạch và hiệu quả, ông Lê Hùng Sơn cho biết, đối với 1 chính sách hỗ trợ mà diện người được hưởng lớn như vậy (gần 13 triệu NLĐ, khoảng 386 nghìn đơn vị sử dụng lao động), nếu không có nền tảng dữ liệu công nghệ thông tin thì vừa khó đảm bảo về tiến độ và vừa khó đảm bảo về chất lượng. Tuy nhiên, với nền tảng công nghệ thông tin của BHXH Việt Nam như hiện nay thì đây là một công cụ hữu hiệu để đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng của việc chi trả các chính sách hỗ trợ này. Cũng theo ông Lê Hùng Sơn, tại Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ, trong phần tổ chức thực hiện đều quán triệt về việc phải có sự giám sát công tác tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ của cấp uỷ chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các đơn vị đại diện cho NLĐ, doanh nghiệp và đông đảo nhân dân.

Giải ngân trong vòng 1 - 2 ngày

Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam cũng cho biết, danh sách lao động có đầy đủ thông tin và thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp do phần mềm đang quản lý sẽ được gửi đến các đơn vị sử dụng lao động. Ngay sau khi người sử dụng lao động ký xác nhận và chuyển cho BHXH Việt Nam, kèm theo số tài khoản cá nhân của người lao động, việc giải ngân sẽ được thực hiện ngay chỉ trong 1 - 2 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Thảo Miên

Thảo Miên

Đọc thêm

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

(TBTCO) - Từ những tiệm cầm đồ truyền thống vốn nhiều góc khuất, ngành cầm đồ chuyển mình mạnh mẽ, nhờ công nghệ và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Với quy mô dư nợ khoảng 10,3 tỷ USD, chiếm áp đảo 68% thị trường tài chính thay thế, các chuỗi cầm đồ thế hệ mới nổi lên như kênh tiếp cận vốn minh bạch, tiện lợi cho nhóm khó vay ngân hàng và tệp khách trẻ đầy tiềm năng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh từ 3,5 - 4,5 triệu đồng/lượng, đưa giá giao dịch phổ biến vượt mốc 150 triệu đồng/lượng.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

(TBTCO) - Thanh toán số tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, theo Mastercard, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi số lượng người dùng hay số lượng giao dịch, mà bởi khả năng kết nối giữa các hệ sinh thái thanh toán và mức độ tin cậy mà người dùng dành cho các trải nghiệm số.
ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu đăng ký giao dịch lên gần 1,4 tỷ đơn vị, tương ứng vốn điều lệ 13.972,1 tỷ đồng. Động thái này nằm trong lộ trình tăng vốn lên trên 20.000 tỷ đồng, tạo nền tảng để ngân hàng duy trì đà tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu kinh doanh lớn năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,950 15,150
Kim TT/AVPL 15,000 15,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 15,200
Nguyên Liệu 99.99 14,300 14,500
Nguyên Liệu 99.9 14,250 14,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,500 151,500
Hà Nội - PNJ 148,500 151,500
Đà Nẵng - PNJ 148,500 151,500
Miền Tây - PNJ 148,500 151,500
Tây Nguyên - PNJ 148,500 151,500
Đông Nam Bộ - PNJ 148,500 151,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,950 15,150
Miếng SJC Nghệ An 14,950 15,150
Miếng SJC Thái Bình 14,950 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 15,150
NL 99.90 13,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000
Trang sức 99.9 14,340 15,040
Trang sức 99.99 14,350 15,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,495 15,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,495 15,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,494 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,494 1,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,474 1,499
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,416 148,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,086 112,586
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,592 102,092
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,098 91,598
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,805 8,755
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,165 62,665
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 1,515
Cập nhật: 17/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18078 18353 18929
CAD 18258 18534 19154
CHF 32462 32846 33496
CNY 0 3851 3945
EUR 29904 30126 31207
GBP 34510 34902 35840
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15034 15619
SGD 19984 20266 20844
THB 725 788 841
USD (1,2) 26034 0 0
USD (5,10,20) 26075 0 0
USD (50,100) 26104 26118 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,967 29,991 31,350
JPY 159.79 160.08 169.34
GBP 34,644 34,738 35,847
AUD 18,218 18,284 18,931
CAD 18,434 18,493 19,129
CHF 32,685 32,787 33,671
SGD 20,083 20,145 20,891
CNY - 3,818 3,955
HKD 3,292 3,302 3,432
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 770.93 780.45 833.62
NZD 14,963 15,102 15,512
SEK - 2,750 2,841
DKK - 4,009 4,141
NOK - 2,706 2,798
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,050.47 - 6,812.64
TWD 752.43 - 908.81
SAR - 6,893.7 7,243.87
KWD - 83,439 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,423
EUR 29,919 30,039 31,227
GBP 34,647 34,786 35,804
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,539 32,670 33,586
JPY 160.04 160.68 168.50
AUD 18,242 18,315 18,908
SGD 20,149 20,230 20,816
THB 788 791 826
CAD 18,454 18,528 19,091
NZD 15,058 15,594
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26422
AUD 18236 18336 19264
CAD 18432 18532 19543
CHF 32686 32716 34294
CNY 3832.4 3857.4 3992.7
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30063 30093 31816
GBP 34781 34831 36589
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15125 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20132 20262 20994
THB 0 753.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14950000 14950000 15150000
SBJ 13000000 13000000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,132 26,182 26,423
USD20 26,132 26,182 26,423
USD1 23,907 26,182 26,423
AUD 18,280 18,380 19,487
EUR 30,210 30,210 31,619
CAD 18,374 18,474 19,781
SGD 20,212 20,362 20,925
JPY 161.04 162.54 167.1
GBP 34,684 35,034 36,149
XAU 14,948,000 0 15,152,000
CNY 0 3,742 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80