Hiệu quả thiết thực từ chương trình vay nhà ở xã hội tại Quảng Ninh

Tiến Dũng
(TBTCO) - Chương trình vay nhà ở xã hội được triển khai tại tỉnh Quảng Ninh không chỉ đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của hàng nghìn người dân, mà còn tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống xã hội và kinh tế địa phương.
aa
Quảng Ninh công bố Đề án phát triển nhà ở xã hội với tổng cộng 18 dự án Thêm nhiều dự án nhà ở xã hội giúp giá chung cư “hạ nhiệt” Hà Nội ban hành khung giá cho thuê nhà ở xã hội Khơi thông dòng chảy đầu tư vào nhà ở xã hội

Ổn định an sinh xã hội

Chương trình vay nhà ở xã hội tại Quảng Ninh đã thể hiện rõ hiệu quả của chính sách nhà ở quốc gia trong việc đáp ứng nhu cầu an cư cho người dân có thu nhập thấp.

Tính đến tháng 3/2025, gần 1.000 tỷ đồng đã được giải ngân và hơn 2.300 hộ gia đình đã có cơ hội sở hữu chốn an cư ổn định. Kết quả này là minh chứng cho tầm quan trọng của chương trình, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay khi nhu cầu về nhà ở luôn là vấn đề nóng bỏng, nhất là đối với các đối tượng có thu nhập thấp, công nhân, người lao động và cán bộ, viên chức.

Người dân tìm hiểu vay vốn
Người dân tìm hiểu vay mua nhà ở xã hội tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ninh. Ảnh T.D

Theo ông Nguyễn Đăng Kiệm - Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Quảng Ninh, việc triển khai chương trình vay nhà ở xã hội là một bước đi quan trọng trong việc giải quyết khó khăn về nhà ở của những đối tượng cần hỗ trợ.

Ông Kiệm chia sẻ: "Nguồn vốn vay ưu đãi từ chương trình đã đến đúng với những người thực sự có nhu cầu, như công nhân, người lao động, người có công, cán bộ, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang… Việc được tiếp cận khoản vay lãi suất thấp, thời gian vay kéo dài tối đa 25 năm giúp họ chủ động cân đối tài chính và ổn định cuộc sống".

Chính sách này đã giúp người dân sở hữu nhà ở, đồng thời góp phần vào ổn định an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Chương trình đã đáp ứng được nhu cầu thực tế của hàng nghìn gia đình trong tỉnh, giúp họ không còn phải lo lắng về nơi ăn chốn ở, từ đó tập trung vào công việc, phát triển sự nghiệp, đóng góp vào nền kinh tế chung.

Kể từ khi triển khai vào năm 2018, chương trình vay nhà ở xã hội đã giúp đỡ hàng nghìn hộ gia đình xây mới, sửa chữa hoặc mua nhà ở. Tổng số tiền giải ngân tính đến tháng 3/2025 lên tới hơn 986 tỷ đồng, trong đó có 2.147 căn nhà được xây mới, sửa chữa và cải tạo với tổng số tiền giải ngân lên đến 911,8 tỷ đồng.

Chương trình không chỉ giúp cải thiện điều kiện sống cho các hộ gia đình mà còn góp phần vào việc phát triển các khu đô thị mới, tạo ra một môi trường sống hiện đại, đầy đủ tiện nghi. Đồng thời, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và tạo ra động lực phát triển đô thị, góp phần làm thay đổi bộ mặt của các khu dân cư và cả thành phố.

Các khu đô thị, khu dân cư được xây dựng khang trang, sạch đẹp, phù hợp với tiêu chuẩn sống hiện đại, từ đó thu hút nguồn lực lao động, đồng thời giảm thiểu tình trạng di cư tự do và bất ổn dân cư.

Góp phần phục hồi kinh tế và phát triển bền vững

Một trong những người trẻ được thụ hưởng từ chương trình là chị Lỷ Thị Hiền (sinh năm 1995, phường Hà Trung, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Chị Hiền xúc động chia sẻ: "Tôi không nghĩ mình có thể sở hữu nhà riêng ở thành phố với thu nhập hiện tại. Nhưng nhờ gói vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tôi đã mua được căn hộ phù hợp, trả góp trong 20 năm với mức lãi suất thấp. Mỗi tháng tôi chỉ cần chi trả khoản hợp lý, vừa đủ khả năng tài chính".

Chương trình vay nhà ở xã hội đã và đang góp phần vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành nghề liên quan như xây dựng, vật liệu xây dựng, nội thất, và tài chính. Những ngành nghề này đang tạo ra nhu cầu lớn về nguồn lực lao động, đồng thời thúc đẩy các ngành sản xuất khác, tạo công ăn việc làm và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế.

Với sự gia tăng của các dự án nhà ở xã hội, nhu cầu về vật liệu xây dựng, sản phẩm nội thất và các dịch vụ hỗ trợ ngày càng cao, từ đó tạo ra một hệ sinh thái kinh tế hỗ trợ lẫn nhau, giúp tăng trưởng kinh tế bền vững.

Dự án nhà ở xã hội khu dân cư đồi Ngân hàng thuộc địa phận 2 phường Hồng Hải và Cao Thắng (TP Hạ Long) sẽ được bàn giao căn hộ trong quý I/2025. Ảnh: Cao Quỳnh
Dự án nhà ở xã hội khu dân cư đồi Ngân hàng (tại TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Ảnh: C.Q

Chương trình vay nhà ở xã hội không chỉ giúp người dân an cư, bên cạnh đó, chương trình đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch, cũng như trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.

Trong giai đoạn 2022-2023, thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Quốc hội và Chính phủ, NHCSXH tỉnh Quảng Ninh đã giải ngân 412 tỷ đồng cho 1.065 lượt khách hàng. Số tiền này đã giúp các đối tượng chính sách, công nhân, người lao động, và các hộ gia đình thu nhập thấp có cơ hội tiếp cận nhà ở, ổn định đời sống.

Chương trình vay nhà ở xã hội còn góp phần vào việc phát triển các khu đô thị mới, các khu dân cư nông thôn theo hướng hiện đại, đồng bộ và văn minh. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sống của người dân mà còn thúc đẩy quá trình quy hoạch đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng.

Các khu dân cư mới được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, với đầy đủ các tiện ích như trường học, bệnh viện, khu vui chơi, giúp tạo ra môi trường sống lý tưởng cho người dân. Chương trình cũng là một trong những động lực quan trọng giúp Quảng Ninh phát triển bền vững.

Trong quý I/2025, Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện cho 7.969 lượt khách hàng vay vốn, với tổng doanh số cho vay đạt 605,9 tỷ đồng, bằng 146,3% so với cùng kỳ năm 2024, tập trung vào một số chương trình, như: giải quyết việc làm 365 tỷ đồng; cho vay phát triển sản xuất 130,4 tỷ đồng; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 88,7 tỷ đồng; cho vay nhà ở xã hội 14,4 tỷ đồng.

Tiến Dũng

Đọc thêm

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 17,670
Kim TT/AVPL 17,380 17,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 17,670
Nguyên Liệu 99.99 15,920 16,120
Nguyên Liệu 99.9 15,870 16,070
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 17,170
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 17,120
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 17,100
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 176,700
Hà Nội - PNJ 173,700 176,700
Đà Nẵng - PNJ 173,700 176,700
Miền Tây - PNJ 173,700 176,700
Tây Nguyên - PNJ 173,700 176,700
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 176,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 17,670
Miếng SJC Nghệ An 17,370 17,670
Miếng SJC Thái Bình 17,370 17,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,870
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 17,672
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 17,673
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 1,765
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 1,766
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 175
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 173,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 131,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 119,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 106,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 102,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 73,132
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cập nhật: 02/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80