Khảo sát của PwC: Cần nhiều thời gian hơn để triển khai IFRS 17

Chí Tín
Theo ấn bản thứ hai của khảo sát “Đánh giá lộ trình áp dụng IFRS 17 - 2021: Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” của PwC, tỷ lệ những người tham gia khảo sát trả lời là “rất tự tin” vào khả năng áp dụng đầy đủ IFRS 17 vào ngày chuẩn mực có hiệu lực đã giảm so với năm trước.
aa

Khảo sát của PwC: Cần nhiều thời gian hơn để triển khai IFRS 17

IFRS 17 là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế toàn diện trong việc xây dựng nên khuôn khổ kế toán thống nhất cho tất cả các loại hợp đồng bảo hiểm. Ảnh. T.L.

IFRS 17 là mô hình kế toán được chuẩn hóa toàn cầu đối cho các hợp đồng bảo hiểm. Đối với các công ty bảo hiểm đã báo cáo theo Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS), các công ty này bắt buộc phải áp dụng IFRS 17 từ tháng 1/2023.

Mặc dù IFRS 17 hứa hẹn nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh của thông tin, áp dụng chuẩn mực này được đánh giá là phức tạp và đòi hỏi phương án xây dựng lộ trình phù hợp.

Theo khảo sát của PwC, 70% bày tỏ quan ngại về những khó khăn thực tế trong quá trình triển khai IFRS 17, mặc dù hơn một nửa trong số họ đã đi vào giai đoạn thiết kế chi tiết.

Việc triển khai IFRS 17 vẫn là một thách thức lớn đối với nhiều công ty bảo hiểm. Theo khảo sát, thời gian dự kiến để triển khai IFRS 17 đã tăng từ 3,5 lên 3,8 năm trong năm qua, đặc biệt là đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ.

Thời gian dự kiến kéo dài khiến chi phí tổng thể khó ước tính và khó kiểm soát hơn. Khoảng 50% các công ty bảo hiểm khi xem xét chi phí triển khai thực tế của họ lo ngại rằng chi phí sẽ cao hơn ngân sách ban đầu.

Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên khi những người tham gia khảo sát tiếp tục gặp phải những trở ngại và trì hoãn mà họ không thể lường trước khi áp dụng IFRS 17.

Bà Trần Thị Thanh Trúc, Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Kiểm toán và Đảm bảo của PwC Việt Nam cho biết, tại Việt Nam, việc tự nguyện áp dụng IFRS sẽ bắt đầu vào năm tới, chỉ một thời gian ngắn trước giai đoạn bắt buộc áp dụng vào năm 2025.

Điểm mấu chốt là doanh nghiệp cần triển khai sớm, đặc biệt là đối với IFRS 17 do chuẩn mực này yêu cầu phân tích tài chính chi tiết và thông tin từ nhiều bộ phận khác nhau của doanh nghiệp.

Khảo sát nhấn mạnh rằng triển khai IFRS 17 là một quá trình dài và đầy thách thức với nhiều công ty bảo hiểm, bất chấp thời điểm áp dụng chuẩn mực đã được lùi tới 2023.

Đối với những công ty chưa áp dụng IFRS, sự khác biệt giữa chế độ báo cáo sẽ khiến những công ty này mất thêm nhiều thời gian và công sức hơn, ví dụ, khi thực hiện đánh giá toàn diện các thiếu sót về dữ liệu, mô hình và quy trình hiện có, tìm hiểu về các tác động tài chính và giải trình những tác động đó tới những bên liên quan (như Hội đồng quản trị).

Một trong những nhân tố góp phần làm trì trệ tiến độ triển khai IFRS 17 là do thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng và có kỹ năng.

Theo khảo sát trên, ba thách thức hàng đầu khi áp dụng IFRS 17 là thiếu hụt nguồn nhân lực (21%), công nghệ (19%) và hạn chế về thời gian (17%). Đây là năm thứ hai mà thiếu hụt nguồn nhân lực được coi là thách thức hàng đầu cho các công ty bảo hiểm.

Đặc biệt, nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia kế toán, định phí bảo hiểm và công nghệ thông tin có kinh nghiệm IFRS 17 sẽ tăng cao.

Các công ty bảo hiểm nên đẩy nhanh quá trình nâng cao kỹ năng cho nhân viên và hỗ trợ thêm nếu cần nhằm duy trì đúng tiến độ cho một lộ trình IFRS 17 thành công.

IFRS 17 chắc chắn sẽ mang lại nhiều thách thức cho toàn doanh nghiệp, không chỉ riêng các bộ phận tài chính và định phí. Các công ty bảo hiểm sẽ có thêm thời gian để hoàn thành lộ trình áp dụng khi thời điểm có hiệu lực được lùi tới 2023.

Tuy nhiên, những công ty bảo hiểm tại Việt Nam chưa bắt đầu lên kế hoạch chi tiết cho các giải pháp IFRS 17 nên lưu ý thời gian và công sức cần bỏ ra cho việc thiết kế và thực hiện chuẩn mực./.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
NL 99.99 13,650 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲50K
Trang sức 99.9 13,980 ▲20K 14,580 ▲20K
Trang sức 99.99 13,990 ▲20K 14,590 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1289K 14,622 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1289K 14,623 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲2K 1,457 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲2K 1,458 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,402 ▲1262K 1,447 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,267 ▲198K 143,267 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,886 ▲150K 108,686 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,756 ▲79894K 98,556 ▲88714K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,626 ▲122K 88,426 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,719 ▲117K 84,519 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,696 ▲83K 60,496 ▲83K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cập nhật: 14/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18012 18286 18863
CAD 18163 18439 19057
CHF 31056 31434 32078
CNY 0 3825 3921
EUR 29368 29589 30669
GBP 34225 34616 35550
HKD 0 3177 3379
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14693 15279
SGD 19904 20186 20754
THB 698 761 814
USD (1,2) 25680 0 0
USD (5,10,20) 25718 0 0
USD (50,100) 25746 25760 26127
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,750 25,750 26,130
USD(1-2-5) 24,720 - -
USD(10-20) 24,720 - -
EUR 29,418 29,442 30,840
JPY 163.66 163.96 173.89
GBP 34,393 34,486 35,680
AUD 18,196 18,262 18,952
CAD 18,345 18,404 19,082
CHF 31,300 31,397 32,327
SGD 20,014 20,076 20,863
CNY - 3,793 3,938
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 745.57 754.78 808.2
NZD 14,668 14,804 15,244
SEK - 2,618 2,711
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,739 2,836
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,951.23 - 6,719.15
TWD 738.06 - 894.23
SAR - 6,786.92 7,153.73
KWD - 82,285 87,561
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,700 25,730 26,110
EUR 29,475 29,593 30,790
GBP 34,415 34,553 35,582
HKD 3,237 3,250 3,367
CHF 31,175 31,300 32,234
JPY 164.54 165.20 173.18
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,090 20,171 20,766
THB 763 766 803
CAD 18,351 18,425 19,017
NZD 14,783 15,323
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25760 25760 26120
AUD 18182 18282 19204
CAD 18343 18443 19458
CHF 31311 31341 32927
CNY 3807.7 3832.7 3968.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29544 29574 31302
GBP 34514 34564 36322
HKD 0 3305 0
JPY 164.85 165.35 175.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14804 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20055 20185 20916
THB 0 726.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,645 25,745 26,110
USD20 25,595 25,745 26,110
USD1 24,327 25,745 26,876
AUD 18,276 18,376 19,497
EUR 29,406 29,506 31,184
CAD 18,279 18,379 19,696
SGD 20,151 20,301 20,864
JPY 165.77 167.27 172.88
GBP 34,432 34,582 35,660
XAU 14,268,000 0 14,572,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 14:00
Ngân hàng