Khơi thông dòng vốn đầu tư vào năng lượng

Khánh Linh
(TBTCO) - Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết bảo đảm đủ năng lượng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ. Điều này đòi hỏi phải hoàn thiện cơ chế, khơi thông nguồn lực để thu hút mạnh dòng vốn đầu tư vào năng lượng.
aa

Nhu cầu vốn đầu tư cho năng lượng rất cao

Tại Diễn đàn Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 diễn ra ngày 29/1/2026, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, nhu cầu phát triển năng lượng của Việt Nam trong các thập kỷ tới sẽ tiếp tục gia tăng mạnh cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Dự báo, tốc độ tăng nhu cầu điện giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 10 - 12%/năm; giai đoạn 2030 - 2035 duy trì ở mức 7 - 7,5%/năm. Mức tăng trưởng này đặt ra yêu cầu rất lớn về đầu tư hạ tầng năng lượng, đặc biệt là phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và các giải pháp phục vụ chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững.

Khơi thông dòng vốn đầu tư vào năng lượng
Nguồn: Hiệp hội Năng lượng Việt Nam. Đồ họa: Phương Anh

Đặc biệt, giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn đầu tư cho năng lượng của Việt Nam ước tính trên 77 tỷ USD, tương đương hơn 15 tỷ USD/năm. Tổng nhu cầu vốn từ nay đến năm 2050 ước khoảng 400 tỷ USD, bình quân khoảng 16 tỷ USD/năm.

TS. Cấn Văn Lực cho hay, tại Việt Nam, từ năm 2001 đến nay, đầu tư tư nhân và FDI chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, chủ yếu tập trung vào các dự án phát triển nguồn điện; phần còn lại là đầu tư công dành cho lưới truyền tải, hạ tầng chiến lược, các dự án bảo đảm an ninh năng lượng.

Về tín dụng xanh, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt khoảng 150% mỗi năm trong giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 6/2025, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung của tín dụng xanh là khoảng 22%/năm. Đến tháng 6/2025, dư nợ tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt gần 290.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1,7% tổng dư nợ của hệ thống tổ chức tín dụng...

Hoàn thiện cơ chế để thu hút đầu tư

TS. Cấn Văn Lực cho biết, về chính sách và khung pháp lý, mặc dù đã có cơ chế mua bán điện trực tiếp (theo Nghị định số 80/2024/NĐ-CP), song việc triển khai trên thực tế còn gặp khó khăn do tồn tại giới hạn giá trần, chi phí thanh toán bù trừ và thủ tục còn phức tạp, trong khi một số quy định chưa cụ thể và thiếu thống nhất. Các chính sách hỗ trợ tài chính cho dự án xanh, chuyển đổi xanh còn chậm đi vào thực tiễn.

Cùng với đó, các tổ chức tín dụng trong nước chưa xây dựng được sản phẩm tín dụng đặc thù cho lĩnh vực năng lượng. Các dự án năng lượng thường có thời gian đầu tư dài, chi phí lớn, có thể kéo dài tới 20 năm, nhưng nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là ngắn và trung hạn.

Việt Nam cần khoảng 13,5 tỷ USD mỗi năm để chuyển dịch năng lượng

Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo, Việt Nam cần huy động khoảng 135 tỷ USD cho quá trình chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn 2021 - 2030, tức trung bình 13,5 tỷ USD/năm, trong đó 75% dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Theo các chuyên gia, đây là không gian để doanh nghiệp tư nhân tham gia ở nhiều khâu, từ phát triển dự án, cung ứng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật đến các giải pháp quản lý năng lượng thông minh.

Để huy động nguồn vốn cho lĩnh vực năng lượng, TS. Cấn Văn Lực đề xuất nhóm giải pháp, trong đó nhấn mạnh việc kiên định triển khai Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh và sớm hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp; xác định giá điện hợp lý và ưu tiên đầu tư truyền tải. Đồng thời, làm rõ nhu cầu tài chính năng lượng để xây dựng danh mục dự án thu hút vốn quốc tế; phát triển cân bằng thị trường tài chính; nâng cấp sở giao dịch hàng hóa và hình thành thị trường carbon; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính quốc tế…

Chuyên gia năng lượng Nguyễn Anh Tuấn - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, nhu cầu vốn đầu tư vào ngành năng lượng trong giai đoạn 2026 - 2030 (ở kịch bản thấp) lên tới hơn 210 tỷ USD. Nếu không có cơ chế đặc thù, thì không thể thu hút được hơn 40 tỷ USD mỗi năm.

Theo tính toán của ông Nguyễn Thái Sơn - nguyên Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực (Bộ Công thương), riêng nhu cầu vốn đầu tư vào các dự án phát triển nguồn điện đến năm 2030 lên tới khoảng 118 tỷ USD và đầu tư cho lưới điện truyền tải là hơn 18 tỷ USD. Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia chỉ đáp ứng được khoảng 60%; nghĩa là, ngay cả các dự án lưới điện vẫn còn khoảng 40% vốn đang cần cơ chế.

TS. Đặng Thị Thu Hoài - Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, việc đầu tư phát triển hạ tầng năng lượng phải có sự chung sức của các thành phần kinh tế. Khi nguồn lực tư nhân được phát huy, sẽ tạo sức bật để tiến nhanh tới thị trường năng lượng và thị trường điện cạnh tranh, minh bạch.

Mở không gian lớn để huy động nguồn vốn xã hội

Trước yêu cầu ngày càng rõ nét về bảo đảm đủ năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 (Nghị quyết 253). Nghị quyết thể hiện cách tiếp cận chủ động, linh hoạt trong hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những vướng mắc tồn tại lâu nay, đồng thời mở ra không gian và động lực mới để ngành năng lượng phát triển đồng bộ, bền vững, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, chuyển dịch xanh và củng cố vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Đề cập những nội dung tại Nghị quyết 253, TS. Ngô Đức Lâm - nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công thương) nhấn mạnh, năng lượng là hạ tầng nền tảng của nền kinh tế, có vai trò quyết định đến năng lực tăng trưởng, sức cạnh tranh và tính tự chủ của quốc gia.

Có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, Nghị quyết 253 tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại lâu nay của ngành năng lượng. Đó là các vướng mắc trong quy hoạch nguồn điện, quy hoạch lưới điện, vận hành hệ thống điện thông minh; sự mất cân đối giữa nguồn điện nền và năng lượng tái tạo; cơ chế huy động vốn đầu tư; thị trường điện cạnh tranh và cơ chế giá điện.

Nghị quyết 253, cùng với các chủ trương về thị trường điện cạnh tranh, cho phép mọi tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát điện và lưới điện, mở ra không gian rất lớn để huy động nguồn vốn xã hội. Điều này giúp giảm đáng kể gánh nặng đầu tư cho Nhà nước, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, minh bạch trong ngành điện.

Được biết, Bộ Công thương đã hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về lộ trình phát triển các cấp độ thị trường cạnh tranh tại Việt Nam đảm bảo phù hợp với Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các chiến lược phát triển ngành điện. Phát triển thị trường điện cạnh tranh, cải cách cơ chế giá điện là yêu cầu tất yếu để tháo gỡ các "điểm nghẽn", tạo động lực thúc đẩy phát triển thị trường năng lượng, đáp ứng nhu cầu cho tăng trưởng từ 10% trở lên trong những năm tới.

Việt Nam cần khoảng 13,5 tỷ USD mỗi năm để chuyển dịch năng lượng

Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo, Việt Nam cần huy động khoảng 135 tỷ USD cho quá trình chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn 2021 - 2030, tức trung bình 13,5 tỷ USD/năm, trong đó 75% dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Theo các chuyên gia, đây là không gian để doanh nghiệp tư nhân tham gia ở nhiều khâu, từ phát triển dự án, cung ứng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật đến các giải pháp quản lý năng lượng thông minh.

Khánh Linh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80