Thị trường tiền tệ tuần cuối cùng năm Nhâm Dần:

Không khí thanh toán tăng nhiệt, hé lộ thông điệp điều hành năm 2023

Chí Tín
(TBTCO) - Một trong những điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (tuần làm việc cuối cùng trước đợt nghỉ Tết Quý Mão) là sự sôi động của các hoạt động thanh toán. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hé mở những thông điệp trong điều hành thị trường tiền tệ cả năm 2023.
aa

Mùa thanh toán cho mua sắm Tết

Không khí mua sắm Tết đang bước vào những ngày sôi động nhất. Điều đáng chú ý trong những ngày này là người dân đã chuyển thói quen sang sử dụng các hình thức thanh toán trực tuyến nhiều hơn, thay vì thói quen sử dụng tiền mặt như trước đây.

Theo Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (Napas), càng về những ngày sát Tết Nguyên đán, cùng với nhu cầu mua sắm của người dân tăng lên, số lượng giao dịch chuyển tiền/thanh toán trực tuyến cũng xu hướng tăng theo. Tuy nhiên, hệ thống Napas chưa ghi nhận tăng trưởng đột biến về số lượng giao dịch, giao dịch thanh toán qua Napas trong tháng 1/2023 chỉ tăng khoảng 20% so với trung bình những tháng cuối năm 2022.

Người dân ngày càng chuyển dịch thói quen sang thanh toán trực tuyến

Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện nay 66% người dân trưởng thành có tài khoản thanh toán; trong đó 3,4 triệu tài khoản và 1,3 triệu thẻ ngân hàng được mở mới trực tuyến, từ xa qua phương thức điện tử (eKYC). Tốc độ tăng trưởng về giao dịch thanh toán di động bình quân hàng năm đạt hơn 90%, nhiều ngân hàng Việt Nam đã có trên 90% giao dịch trên kênh số.

Xu hướng gia tăng thanh toán trực tuyến – đặc biệt được thể hiện trong những ngày cao điểm mua sắm giáp Tết – là một tín hiệu khá tích cực cho cả phía ngân hàng và người dân.

Ở góc độ người dân, việc sử dụng các dịch vụ thanh toán đã giúp cho các hoạt động mua bán thuận lợi hơn, ít bị lệ thuộc vào tiền mặt, hiện tại không còn tình trạng người dân phải xếp hàng chờ rút tiền ở các cây ATM vào các dịp gần Tết như diễn biến thường gặp ở các năm trước.

Trong khi đó, các ngân hàng đang đặt kỳ vọng khá nhiều về việc gia tăng biên lợi nhuận từ việc thúc đẩy hoạt động thanh toán khi người dân sẽ để tiền nhiều hơn trong tài khoản ngân hàng, thay vì để nhiều tiền mặt ở nhà như trước đây.

Không khí thanh toán tăng nhiệt, hé lộ thông điệp điều hành năm 2023
Thanh toán điện tử đang trở thành thói quen của người dân. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng nhích tăng, gợi ra những góc nhìn mới

Thông điệp điều hành năm 2023

Trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã đưa ra các thông điệp cho việc điều hành thị trường tiền tệ trong năm 2023. Theo đó, Thống đốc NHNN đã có văn bản yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2023 nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.

NHNN rà soát từng ngân hàng để phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

NHNN cho biết trong thời gian tới sẽ thông báo và định kỳ rà soát, xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức tín dụng trên cơ sở tình hình hoạt động, năng lực tài chính và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh; trong đó căn cứ một số tiêu chí cơ bản như kết quả xếp hạng tổ chức tín dụng, mức độ tập trung tín dụng, lãi suất, việc tham gia hỗ trợ xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, tình hình thực tiễn thị trường...

Về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và vàng, cơ quan quản lý thị trường tiền tệ cho biết sẽ bám sát diễn biến thị trường, tình hình kinh tế trong và ngoài nước để điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ và giải pháp chính sách tiền tệ nhằm đạt các mục tiêu. Trong đó, NHNN sẽ quan tâm điều hành nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với diễn biến thị trường, hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ.

NHNN tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để ổn định mặt bằng lãi suất cho vay; điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát…

Không khí thanh toán tăng nhiệt, hé lộ thông điệp điều hành năm 2023
Các cây ATM không còn đông đúc trong những dịp giáp Tết như trong những năm trước. Ảnh: T.L

Tỷ giá “lăn tăn” sóng

Diễn biến tỷ giá tăng giảm với biên động sóng rất nhẹ trong tuần qua. Mở đầu tuần, tỷ giá USD trung tâm 16/1 được NHNN công bố điều chỉnh giảm nhẹ chỉ 1 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước, ghi nhận ở mức 23.601 đồng/USD. Tiếp đó, tỷ giá USD trung tâm có 2 phiên tăng, và một phiên giảm, chốt ngày giao dịch cuối cùng năm Nhâm Dần ở mức 23.605 đồng/USD.

Tại ngân hàng thương mại, Vietcombank có một số phiên giữ ổn định tỷ giá, trong khi một số phiên có điều chỉnh nhưng biên độ điều chỉnh chỉ khoảng 10 – 20 đồng mỗi Đô la. Trong phiên giao dịch cuối cùng ngày 19/1, tỷ giá Đô la Mỹ tại Vietcombank ghi nhận ở mức 23.270/23.300/23.620 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra), chỉ cao hơn khoảng 10 đồng mỗi Đô la so với phiên đầu tuần.

Tỷ giá ổn định thời điểm này tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt thời điểm này là giai đoạn nhiều doanh nghiệp đang phải hoạch định các kế hoạch chuẩn bị nguồn ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu cho chu kỳ kinh doanh mới sau đợt nghỉ Tết.

Giá vàng tăng nhẹ

Giá vàng giảm trong phiên đầu tuần, nhưng sau đó lại có diễn biến tăng nhẹ trong các phiên tiếp theo.

Mở cửa thị trường hôm đầu tuần ngày 16/1, giá vàng SJC ở Hà Nội giảm 100 nghìn đồng/lượng, ghi nhận ở mức 66,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 67,22 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.

Giá vàng tiếp tục đứng giá trong phiên tiếp theo, nhưng có xu hướng tăng vào cuối tuần và ghi nhận mức giá vàng miếng SJC tại Hà Nội sáng hôm 19/1 là 66,7 triệu đồng/lượng mua vào và 67,72 triệu đồng/lượng bán ra.

Trên thế giới, vàng được dự báo tiếp tục tăng giá, sẽ sớm chạm ngưỡng 2.000 USD/ounce và thiết lập kỷ lục mới trong năm 2023 cho dù trước mắt sẽ chịu áp lực trước ngưỡng kháng cự 1.930 USD/ounce. Theo Bank of America, vàng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong danh mục đầu tư của các tổ chức trong vòng 3 năm tới.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, lên mức 4.182 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 28/9: Vàng miếng đứng giá, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 28/9: Vàng miếng đứng giá, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng tại các doanh nghiệp lớn giữ nguyên ở mức 141,4 - 144,4 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn Bảo Tín Minh Châu giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 14,430
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,740 14,340
Trang sức 99.99 13,750 14,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 1,428
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 141,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 107,261
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 97,264
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 87,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 83,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 59,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 02/10/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17512 17785 18369
CAD 17710 17984 18600
CHF 30440 30815 31468
CNY 0 3833 3929
EUR 28713 28931 30014
GBP 33549 33937 34888
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14272 14862
SGD 19749 20031 20610
THB 687 750 804
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,762 28,785 30,151
JPY 159.6 159.89 169.55
GBP 33,720 33,811 34,984
AUD 17,693 17,757 18,431
CAD 17,900 17,957 18,620
CHF 30,729 30,825 31,741
SGD 19,872 19,934 20,715
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,245 3,255 3,391
KRW 17.59 18.34 19.96
THB 735.06 744.14 796.77
NZD 14,254 14,386 14,814
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,857 3,994
NOK - 2,647 2,741
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.47 - 6,707.29
TWD 733.6 - 888.79
SAR - 6,802.81 7,166.27
KWD - 82,124 87,387
AED - 6,820 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 28,901 29,017 30,231
GBP 33,851 33,987 35,020
HKD 3,242 3,255 3,372
CHF 30,582 30,705 31,646
JPY 160.63 161.28 169.26
AUD 17,716 17,787 18,383
SGD 19,962 20,042 20,635
THB 753 756 793
CAD 17,917 17,989 18,582
NZD 14,398 14,947
KRW 18.43 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17666 17766 18692
CAD 17874 17974 18986
CHF 30642 30672 32249
CNY 3814.8 3839.8 3974.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28847 28877 30599
GBP 33813 33863 35621
HKD 0 3315 0
JPY 160.45 160.95 171.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19896 20026 20747
THB 0 715.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 02/10/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30