Kịch bản dòng tiền trước tín hiệu lãi suất hạ nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Thời gian gần đây, nhiều ngân hàng có động thái giảm lãi suất. Nếu điều này nếu trở thành xu hướng và tiếp tục duy trì thì cơ hội cho các kênh đầu tư có thể sẽ xuất hiện.
aa

Động thái giảm lãi suất rõ nét dần

Lãi suất huy động và cả cho vay tại nhiều ngân hàng đều đang có xu hướng giảm và mở rộng ra nhiều ngân hàng khác nhau trong thời gian gần đây.

Sacombank đã áp dụng biểu lãi suất mới và đồng loạt giảm mạnh ở nhiều kỳ hạn. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 24 tháng tại ngân hàng này giảm từ 9,25% xuống 8,8%, lãi suất kỳ hạn 12 tháng giảm từ 8,9% xuống 8,6%, lãi suất kỳ hạn 6 tháng giảm từ 8,5% xuống 8,2%. Hiện nay, lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn truyền thống cho tiền gửi tại quầy chỉ còn 5,5% với kỳ hạn 1 tháng, 5,7% với kỳ hạn 3 tháng. Trong khi đó, Techcombank cũng đã đưa ra mức lãi suất huy động mới với mặt bằng thấp hơn so với trước đây. Với biểu lãi suất mới, lãi suất cuối kỳ cho các kỳ hạn từ 5 tháng trở xuống còn 5,9%. Trong khi đó với các kỳ hạn dài, lãi suất cao nhất tại ngân hàng này cũng chỉ còn ở mức khoảng 8,4%/năm.

Thời gian gần đây, nhiều ngân hàng có động thái giảm lãi suất.
Thời gian gần đây, nhiều ngân hàng có động thái giảm lãi suất.

Với lãi suất đầu ra, SeABank vừa cho biết đã tung gói ưu đãi 3.000 tỷ đồng, giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm cho các khoản vay ngắn hạn phục vụ mục đích kinh doanh. Ngân hàng BIDV dành tới 100.000 tỷ đồng cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất kinh doanh như: mua nhà...với lãi suất từ 10,3%/năm trong 12 tháng đầu. Cụ thể, BIDV dành khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất kinh doanh như mua nhà, ô tô, tiêu dùng của khách hàng cá nhân với lãi suất từ 10,3%/năm trong 12 tháng đầu tiên; hay 10,9%/năm trong 18 tháng giải ngân đầu cho khách hàng vay mua nhà ở. Ngân hàng ACB cũng vừa đưa ra gói 20.000 tỷ đồng ưu đãi lãi suất vay cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, với mức ưu đãi giảm tối đa 3% lãi vay so với biểu lãi suất. Bên cạnh đó, ACB còn giảm tối đa 2% cho khách hàng vay hiện hữu đến kỳ thay đổi lãi suất có giao dịch chính tại ngân hàng. Trong khi đó, Công ty Tài chính Shinhan Finance cũng đã hợp tác với Ford Việt Nam, chính thức triển khai chương trình ưu đãi, với lãi suất đặc biệt khi vay mua ô tô tiêu dùng…

Động thái hạ lãi suất tại một số ngân hàng theo đó cũng phù hợp với kỳ vọng trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), bởi theo quan điểm chỉ đạo của Thống đốc Nguyễn Thị Hồng đưa ra trong tháng 2/2023 là yêu cầu các tổ chức tín dụng nỗ lực tối đa tiết giảm chi phí hoạt động để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn.

Cơ hội khơi thông các kênh đầu tư

Bên cạnh động thái hạ lãi suất tại các ngân hàng thương mại, NHNN cũng đang đôn đốc các ngân hàng thương mại tăng cường kết nối doanh nghiệp để đẩy mạnh vốn tín dụng ra nền kinh tế để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mới đây, NHNN cũng vừa có văn bản yêu cầu NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố; các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) tiếp tục đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp. Theo đó, NHNN cho biết, các chi nhánh NHNN địa phương và các TCTD cần hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng năm 2023 theo Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 17/1/2023 của NHNN.

Thống đốc NHNN yêu cầu NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố triển khai tổ chức Hội nghị kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp trên địa bàn trong tháng 2/2023 theo hình thức phù hợp để đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng; nắm bắt các khó khăn vướng mắc liên quan đến việc tiếp cận vốn vay ngân hàng để kịp thời xử lý, tháo gỡ.

Theo đánh giá của các chuyên gia, các động thái từ phía ngành ngân hàng có thể tạo thêm điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, gia tăng đầu tư phục vụ hoạt động kinh doanh. Đây có thể sẽ là động lực thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với cổ phiếu của các doanh nghiệp có khả năng nhận được sự thụ hưởng từ các động thái này.

Thành lập đường dây nóng để phản ánh vướng mắc về tín dụng

Theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng phải thành lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh, kiến nghị (điện thoại, email) của người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở tiếp nhận các vướng mắc, các tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm xử lý, trả lời rõ ràng cho từng trường hợp cụ thể.

Mặc dù hiện tại tín hiệu dòng tiền với thị trường chứng khoán chưa thực sự rõ ràng, nhưng đánh giá của các chuyên gia thì trong quan điểm đầu tư dài hạn thì một số cổ phiếu thuộc các ngành nghề có các yếu tố nền tảng phục hồi tốt vẫn có thể là địa chỉ hợp lý cho các mục tiêu đầu tư. Theo ông Phùng Trung Kiên - Nhà sáng lập Công ty Vietnam Holdings Inc, cơ hội đầu tư có thể đến với các nhóm ngành liên quan đến xuất khẩu và những nhóm ngành phục vụ hoạt động đầu tư nước ngoài. Cụ thể, đó là các ngành như dệt may, nông, thủy hải sản, linh phụ kiện, sắt thép, bất động sản khu công nghiệp, ngành dịch vụ cảng biển…

Ngoài ra, cổ phiếu các doanh nghiệp bất động sản có dự án khả thi và các doanh nghiệp phụ trợ bất động sản (xây lắp, vật liệu xây dựng…) có thể cũng có cơ hội phục hồi sau giai đoạn giảm sâu thời gian qua. Bởi lẽ theo quan điểm điều hành tín dụng của NHNN, các ngân hàng thường mại cũng cần chủ động rà soát, phân loại, đánh giá các dự án bất động đang cấp tín dụng để có giải pháp xử lý, tháo gỡ khó khăn…

Chí Tín

Đọc thêm

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

(TBTCO) - Thông tin từ Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy, nguy cơ rửa tiền lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Dù vậy, trong bối cảnh Việt Nam nằm trong “danh sách xám”, việc nhận diện rủi ro từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và xây dựng biện pháp kiểm soát vẫn là yêu cầu cấp thiết.
Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Sáng ngày 9/4, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.102 VND/USD. Trong biên độ 5%, tỷ giá ngân hàng dao động 23.847 - 26.357 VND/USD, trong khi thị trường tự do rớt mất mốc 27.000 đồng. Chỉ số DXY quanh 99,07 điểm, biến động trước rủi ro địa chính trị, tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn chưa được giải quyết triệt để, bất chấp lệnh ngừng bắn tạm thời.
Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều yếu tố “bất ổn, bất định”, áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong nước thu hẹp. Trong khi đó, kênh tín dụng vẫn là trục truyền dẫn chính, gánh nặng vốn trung - dài hạn và rủi ro thanh khoản thường trực. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu thiết kế chính sách tiền tệ vừa hỗ trợ tăng trưởng cao, vừa giữ ổn định vĩ mô.
VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼250K 17,160 ▼350K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼230K 17,150 ▼330K
Nguyên Liệu 99.99 15,750 ▼140K 15,950 ▼140K
Nguyên Liệu 99.9 15,700 ▼140K 15,900 ▼140K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼310K 16,950 ▼310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼310K 16,900 ▼310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼310K 16,880 ▼310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
NL 99.90 15,470 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼150K
Trang sức 99.9 16,290 ▼300K 16,990 ▼300K
Trang sức 99.99 16,300 ▼300K 17,000 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▲1514K 17,152 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▲1514K 17,153 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 ▼1537K 171 ▼1574K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 ▼1537K 1,711 ▼35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 ▼1519K 1,695 ▲1522K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,322 ▼3465K 167,822 ▼3465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,388 ▼2625K 127,288 ▼2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,522 ▼2380K 115,422 ▼2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,655 ▼2136K 103,555 ▼2136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,078 ▼2041K 98,978 ▼2041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,939 ▼1459K 70,839 ▼1459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cập nhật: 09/04/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17964 18238 18814
CAD 18454 18731 19347
CHF 32605 32989 33637
CNY 0 3800 3870
EUR 30046 30320 31345
GBP 34425 34817 35743
HKD 0 3229 3431
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15033 15621
SGD 20088 20371 20897
THB 735 799 852
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26140 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,253 30,277 31,526
JPY 161.63 161.92 170.62
GBP 34,707 34,801 35,783
AUD 18,227 18,293 18,868
CAD 18,698 18,758 19,330
CHF 32,924 33,026 33,787
SGD 20,270 20,333 21,009
CNY - 3,789 3,909
HKD 3,302 3,312 3,430
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 785.72 795.42 846.39
NZD 15,052 15,192 15,548
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,048 4,165
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,194.83 - 6,948.76
TWD 748.85 - 901.61
SAR - 6,915.31 7,239.3
KWD - 83,816 88,631
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,126 30,247 31,426
GBP 34,635 34,774 35,779
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,674 32,805 33,730
JPY 161.86 162.51 169.83
AUD 18,175 18,248 18,837
SGD 20,292 20,373 20,956
THB 800 803 838
CAD 18,661 18,736 19,300
NZD 15,089 15,620
KRW 17.05 18.73
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26357
AUD 18148 18248 19173
CAD 18638 18738 19754
CHF 32848 32878 34457
CNY 3789.4 3814.4 3949.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30227 30257 31982
GBP 34713 34763 36524
HKD 0 3355 0
JPY 162.07 162.57 173.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20249 20379 21110
THB 0 765.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,154 26,204 26,357
USD20 26,154 26,204 26,357
USD1 26,154 26,204 26,357
AUD 18,224 18,324 19,433
EUR 30,407 30,407 31,818
CAD 18,604 18,704 20,013
SGD 20,346 20,496 21,062
JPY 162.83 164.33 168.91
GBP 34,664 35,014 36,140
XAU 16,748,000 0 17,152,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/04/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80