Kiều hối - tín hiệu khả quan

TS. Đỗ Văn Huân
(TBTCVN) - Kiều hối là nguồn tiền lớn và quý, có tác động về nhiều mặt. Thời gian mới qua 1/3 của cả năm, nhưng đã có những tín hiệu khả quan. Nhiều người do dịch bệnh nên không về ăn tết nên tiền gửi về không những không giảm mà còn tăng.
aa

hoi

Lượng kiều hối về Việt Nam đã liên tục tăng lên qua các năm

Vai trò của kiều hối

Trước hết, kiều hối là ngoại tệ mạnh từ nước ngoài chuyển về trong nước. Ngoại tệ mạnh được xét dưới 3 khía cạnh. Thứ nhất là sức mạnh của bản thân đồng USD, bởi đây là đồng tiền của nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới (khoảng 21 nghìn tỷ USD, lớn gấp rưỡi quy mô của nền kinh tế lớn thứ 2 khoảng 14 nghìn tỷ USD của Trung Quốc). Khi đồng tiền này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dự trữ quốc tế của các nền kinh tế, trong tổng thanh toán quốc tế, khi có quy mô lớn nhất về tổng kim ngạch xuất + nhập khẩu trong các nước và vùng lãnh thổ,…

b11
LƯỢNG KIỀU HỐI VỀ VIỆT NAM TỪ 1993 ĐẾN NAY (triệu USD)

Thứ hai, Việt Nam còn là nước đang phát triển, rất cần vốn đầu tư và an toàn tài chính trong thanh toán quốc tế với dự trữ ngoại hối tăng, ổn định vĩ mô,… Thứ ba, ở Việt Nam, nếu tính theo tỷ giá sức mua tương đương (PPP), thì 1 USD nếu vào Việt Nam có sức mua gấp khoảng 3 lần ở Mỹ - điều đó lý giải tại sao GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2020 tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái chỉ đạt 2.799 USD, nhưng nếu tính theo PPP đã đạt khoảng 8.400 USD,…

Kiều hối là khoản tiền lớn khi so với các nguồn khác và so với GDP. Với 2 khoản lớn (của Việt kiều và của lao động xuất khẩu), ngoài ý nghĩa chung ở trên, mỗi khoản còn có ý nghĩa riêng. Nguồn do Việt kiều gửi về không chỉ là tiền, mà quan trọng hơn là thể hiện tấm lòng hướng về cội nguồn, đất nước, quê hương, người thân của bà con. Nguồn do người lao động xuất khẩu gửi về còn là kết quả từ sự khéo tay, cần cù, nắm bắt công nghệ, năng động, sáng tạo, tác phong làm việc, với ý thức giờ làm thuê ở nước ngoài, để làm chủ trong tương lai khi về nước.

Kết quả tích cực, tín hiệu khả quan

Năm 2020 lượng kiều hối nhiều gấp 113,2 lần năm 1993- năm đầu tiên có thông tin về kiều hối – bình quân 1 năm tăng 19,1%. Đây là tốc độ tăng rất cao so với tốc độ tăng chung của các nước. Tính từ năm 1993 đến nay, tổng lượng kiều hối về Việt Nam đạt khoảng 184,85 tỷ USD, bình quân 1 năm đạt 6.602 triệu USD, bằng khoảng 6,5% GDP.

Như vậy, lượng kiều hối về Việt Nam đã liên tục tăng lên qua các năm (chỉ bị giảm vào năm 2009 - do cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu). Đây là lượng ngoại tệ lớn so với các nguồn ngoại tệ khác. Năm 2020 xuất siêu gần 20 tỷ USD nhưng chủ yếu do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), còn khu vực trong nước nhập siêu lớn. Thực hiện vốn ĐTNN đạt 20 tỷ USD, nhưng có một phần do vay trong nước và góp vốn của trong nước, lợi nhuận do nước ngoài thu. ODA thực chất là vốn vay, phần ưu đãi đã giảm thiểu. Vốn đầu tư gián tiếp vào/ra rất khó kiểm soát. Chi tiêu của khách quốc tế năm 2020 chỉ đạt 2,5 tỷ USD và thấp hơn số chi tiêu của khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài,….

Năm 2020, lượng kiều hối của Việt Nam được WB xếp thứ 9/10 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cụ thể: Ấn Độ 83 tỷ USD, Trung Quốc 60 tỷ USD, Mehico 43 tỷ USD, Philipines 35,1 tỷ USD, Ai Cập 30 tỷ USD, Paskixtan 26 tỷ USD, Banglades 22 tỷ USD Nigieria 17 tỷ USD, Việt Nam 17 tỷ USD, Ucraina 15 tỷ USD). Nếu tính lượng kiều hối/GDP, Việt Nam còn ở thứ bậc cao hơn (Việt Nam chiếm gần 6,4%, cao hơn của Trung Quốc 0,5%, Ấn Độ 2,8%, Mehico 3,3%). Nếu tính bình quân dân số thì của Việt Nam năm 2019 đạt 173,1 USD, cao hơn của một số nước có tổng lượng kiều hối đứng trên. Năm 2020 của Việt Nam đạt 176,3 USD/người.

Năm 2021 mới trải qua 1/3 thời gian, nhưng kết quả khả quan. Nhiều người do dịch bệnh nên không về ăn Tết nên tiền gửi về không những không giảm mà còn tăng. Theo ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, sau 4 tháng TP. Hồ Chí Minh đã đạt 2 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2020 giảm 20%, nhưng cả năm đạt 6,1 tỷ USD, trong khi TP. Hồ Chí Minh thường chiếm 40% cả nước).

Hai lý do tích cực khiến lượng kiều hối gia tăng

Nguyên nhân có nhiều, trước hết là đối với người gửi. Số lao động làm hợp đồng dài hạn ở nhiều nước và vùng lãnh thổ có khoảng 580 nghìn, hiện ở Đài Loan 230 nghìn, Nhật Bản 230 nghìn, Hàn Quốc 90 nghìn, Malaysia và Đông Timo 30 nghìn, Trung Đông, châu Phi và châu Âu 45 nghìn.

Số tiền mà người lao động gửi về ước đạt 3 đến 4 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 20% tổng lượng kiều hối về Việt Nam.

Có nguyên nhân do chính sách của Nhà nước có 2 điểm tích cực đáng lưu ý. Thứ nhất, người nhận ngoại hối có khoản thu nhập ngoài, dù là thu nhập cá nhân, dù ít, dù nhiều, nhưng không phải nộp thuế thu nhập cá nhân như các khoản thu nhập cá nhân khác - đây là sự khuyến khích, ưu ái hơn hẳn so với nhiều nước trên thế giới. Thứ hai, người nhận kiều hối được tự quyết định nhận bằng ngoại tệ gốc hay đổi thành tiền Việt Nam để sử dụng, hoặc gửi tiết kiệm,... Do lãi suất tiết kiệm bằng VND cao hơn, bảo đảm thực dương trong thời gian khá dài, nên người nhận kiều hối thường đổi sang VND để sử dụng, không găm giữ USD. Ở Việt Nam lãi suất gửi ngân hàng bằng tiền VND cao hơn so với tiền gửi với lãi suất rất thấp của người có kiều hối gửi gần như bằng 0 ở nước ngoài, lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở trong nước bằng 0, trong khi tỷ giá VND/USD từ mấy năm nay cơ bản ổn định.

Cùng với đó, có nguyên nhân từ việc chuyển/nhận tiền nhìn chung là thuận lợi, nhanh chóng từ các đơn vị dịch vụ nhận/trả kiều hối tăng lên trong mấy năm qua, có đơn vị người nhận kiều hối còn được tích điểm thưởng,… để khuyến khích.

Một nguyên nhân rất quan trọng - kiều hối không chỉ là tiền. Quan trọng hơn, thể hiện tấm lòng Việt kiều và ý chí thoát nghèo của người lao động đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài,…

TS. Đỗ Văn Huân

TS. Đỗ Văn Huân

Đọc thêm

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18472
CAD 18476 18753 19372
CHF 32374 32757 33403
CNY 0 3470 3830
EUR 29705 29977 31007
GBP 34242 34633 35570
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14880 15469
SGD 19922 20204 20733
THB 716 779 833
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80