Thị trường tiền tệ tuần 22 – 26/5:

Kỳ vọng từ hạ lãi suất điều hành; nhiều diễn biến bất lợi cho giá vàng

Chí Tín
(TBTCO) - Sự kiện đáng chú ý nhất trên thị trường tiền tệ trong nước tuần vừa rồi là 2 quyết định hạ lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và điều này, mở ra nhiều kỳ vọng có thể dần hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động kinh doanh thời gian tới. Trong khi đó, diễn biến bất lợi của giá vàng quốc tế cũng khiến cho giá vàng trong nước đi vào xu hướng giảm.
aa

Kỳ vọng mới từ hạ lãi suất điều hành

2 quyết định mới của NHNN đã ban hành và có hiệu lực từ 25/5. Theo đó, Quyết định số 950/QĐ-NHNN quy định lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) giảm từ mức 6,0%/năm xuống 5,5%/năm. Lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm.

Quyết định số 951/QĐ-NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm, riêng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô giảm từ mức 6,0%/năm xuống 5,5%/năm.

Kỳ vọng từ hạ lãi suất điều hành; nhiều diễn biến bất lợi cho giá vàng
Diễn biến lãi suất luôn là mối quan tâm của giới kinh doanh. Ảnh: T.L

Việc giảm lãi suất của NHNN là động thái được thị trường kỳ vọng và theo đó, các ngân hàng thương mại sẽ hưởng ứng theo. Ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank cho biết, động thái giảm lãi suất điều hành của NHNN khá phù hợp, gửi tín hiệu đến thị trường cho thấy nhà điều hành mong muốn lãi suất của thị trường hạ xuống. Chi phí vốn hạ thì các ngân hàng thương mại mới có khả năng điều chỉnh mức lãi suất cho vay cho DN và người dân, khi đó sẽ hỗ trợ tốt hơn cho phát triển kinh tế.

Tiếp tục quan tâm hơn về cơ cấu nợ

Cùng với động thái hạ lãi suất điều hành, NHNN cũng đã gửi đi thông điệp thể hiện sự quan tâm hơn về việc thực thi chính sách giãn, hoãn, cơ cấu nợ cho các doanh nghiệp.

Theo đó, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về tăng cường công tác tín dụng và triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn theo quy định tại Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023. Văn bản nêu rõ, các TCTD cần tiếp tục tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, giảm các loại phí nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi và phát triển sản xuất - kinh doanh.

Tiếp tục triển khai các gói tín dụng ưu đãi

Tuần qua, các ngân hàng cũng được NHNN yêu cầu phải tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trong đó có gói tín dụng 120.000 tỷ đồng cho chủ đầu tư và người mua nhà của các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ…

Về yêu cầu cắt giảm chi phí, hiện nay các ngân hàng cũng đang kỳ vọng vào những chuyển biến trong dịch vụ thanh toán. Cũng trong tuần qua, NHNN đã tổ chức chuỗi sự kiện Ngày không tiền mặt năm 2023. Theo NHNN, hiện nay tỷ lệ người dân có tài khoản ngân hàng đạt 74,63%; tổng số tài khoản Mobile-Money được đăng ký và sử dụng là hơn 3,71 triệu tài khoản với gần 8,88 nghìn điểm kinh doanh được thiết lập, 15,3 nghìn đơn vị chấp nhận thanh toán. Đến tháng 4/2023, NHNN đã phối hợp với Bộ Công an (C06) hoàn thành xác thực hơn 25 triệu thông tin tín dụng khách hàng vay với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc NHNN cho biết, thời gian tới sẽ thiết lập hạ tầng đồng bộ nhằm tạo thuận lợi và thúc đẩy kết nối liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương.

Tỷ giá tăng ở mức độ vừa phải

Trong tuần qua, tỷ giá có những phiên tăng giảm, nhưng diễn biến chung theo chiều hướng tăng ở mức độ vừa phải.

Tỷ giá trung tâm mở đầu tuần mới phiên 22/5 ở mức 23.684 đồng/USD, có tăng nhẹ so với cuối tuần trước. Sau đó, tỷ giá trung tâm đã có một phiên giảm điểm, nhưng sau đó lại quay đầu tăng điểm 3 phiên liên tiếp. Kết thúc tuần, tỷ giá trung tâm ghi nhận ở mức 23.711 đồng/USD, cao hơn 27 đồng so với phiên đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá do Vietcombank công bố cũng diễn biến theo xu hướng tăng trong tuần qua khi mở đầu tuần mới ở mức 23.245/23.275/23.615 đồng/USD (mua chuyển khoản/mua tiền mặt/bán ra) và kết thúc tuần ở mức 23.290/23.320/23.660 đồng/USD. Với diễn biến này, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank thời điểm cuối tuần đã cao hơn khoảng 45 đồng mỗi đô la so với hôm đầu tuần.

Kỳ vọng từ hạ lãi suất điều hành; nhiều diễn biến bất lợi cho giá vàng
Sức mua với vàng khá yếu trong tuần vừa qua. Ảnh: T.L

Nhiều diễn biến bất lợi cho giá vàng

Giá vàng cả trong nước và thế giới tuần qua đã diễn ra với chiều hướng đi xuống do những diễn biến chung trên thị trường tài chính quốc tế vẫn tỏ ra nhiều bất lợi hơn là thuận lợi cho giá vàng.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC 9999 do Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết hôm đầu tuần ở mức 66,65 triệu đồng/lượng mua vào và 67,25 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó các ngày trong tuần, giá vàng hầu như chỉ diễn biến đi ngang hoặc đi xuống, chiều ngày 26/5, giá vàng miếng SJC 9999 loại 1 lượng trở lên niêm yết trong nước ở mức 66,45 triệu đồng/lượng mua vào và 67,05 triệu đồng/lượng bán ra.

Giá vàng thế giới ngày 22/5 tuy có tăng nhẹ lên mức 1.981,1 USD/ ounce, nhưng sau đó cũng chủ yếu đi vào trạng thái giảm và đến chiều ngày 26/5, giá vàng niêm yết trên sàn Kitco chỉ còn ở mức khoảng 1.955 USD/ounce, giảm khoảng 27 USD do với đầu tuần.

Đồng USD đã tăng giá do khả năng FED có thể chưa dừng chuỗi các đợt giảm lãi suất là lý do khiến cho giá vàng giảm, do vàng giao dịch được tính theo đơn vị đồng USD. Hiện nay, tình trạng khủng hoảng trần nợ của Mỹ nếu được giải quyết kịp thời thì đồng USD thậm chí có thể còn tiếp tục tăng giá, vàng sẽ rơi vào thế bất lợi lớn.

Động lực chính cho sự hồi sinh của vàng là mối lo ngại về độ tin cậy của các tài sản khác, vì khi thị trường trở nên biến động hơn, các nhà đầu tư đã quay về với vàng, nhưng hiện tại giới đầu tư quốc tế cũng chưa thực sự tin tưởng vào triển vọng ổn định của vàng cả trong dài hạn và ngắn hạn.

Yêu cầu về tuân thủ quy định trong thực hiện giãn, hoãn nợ

Thống đốc NHNN cũng yêu cầu các TCTD thực hiện chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ đúng quy định; giám sát chặt chẽ, an toàn, phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ để thông đồng, trục lợi chính sách; thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và hạch toán lãi dự thu theo đúng quy định pháp luật…

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲130K 14,670 ▲130K
Trang sức 99.99 14,080 ▲130K 14,680 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲18K 1,471 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲18K 1,472 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▲18K 1,461 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▲1782K 144,653 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▲1350K 109,736 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▲1224K 99,508 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼70434K 8,928 ▼79254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▲1050K 85,335 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼45401K 6,108 ▼54221K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30