Lãi suất huy động liên tục nhích tăng và hiệu ứng tới các kênh đầu tư

Chí Tín
(TBTCO) - Thời gian gần đây lãi suất huy động của các ngân hàng có xu hướng nhích tăng dần và diễn biến này nếu tiếp tục trở thành một xu hướng thì khả năng tác động của lãi suất tăng đến các kênh đầu tư là hoàn toàn có thể xảy ra.
aa
Lãi suất huy động liên tục nhích tăng và hiệu ứng tới các kênh đầu tư
Diễn biến lãi suất huy động tăng hoàn toàn phù hợp với bối cảnh thị trường tiền tệ. Ảnh tư liệu

Lãi suất liên tục tăng

Nhịp tăng lãi suất tiền gửi bắt đầu xuất hiện từ khoảng tháng 3/2024 và vẫn diễn ra liên tục đều đặn từ thời điểm đó đến nay và ngày càng nhiều ngân hàng góp mặt vào danh sách các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất như MB, Eximbank, NCB, SeABank, VIB, BaoViet Bank, Saigonbank, VietBank… Thậm chí, có ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất nhiều lần trong giai đoạn vừa qua và riêng tháng 6/2024, trên thị trường sơ bộ đã có tới khoảng 20 đợt tăng lãi suất của các ngân hàng thương mại. Diễn biến này tiếp tục kéo dài sang tháng 7 khi trong vòng nửa tháng, đã có khoảng 10 đợt tăng lãi suất của các ngân hàng.

FED sớm hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ giảm áp lực tăng lãi suất trong nước

Giới tài chính kỳ vọng nếu lạm phát tiếp tục có tín hiệu tích cực khác vào tháng 8 có thể thúc đẩy FED nới lỏng chính sách tiền tệ với nhiều hơn 1 lần hạ lãi suất trong năm 2024. Công cụ FED Watch tại thời điểm chiều ngày 16/7 đưa ra tỷ lệ dự báo xác suất lên tới gần 90% khả năng FED cắt giảm lãi suất xuống mức 5 - 5,25% vào phiên họp tháng 9.

Diễn biến lãi suất huy động tăng hoàn toàn phù hợp với bối cảnh thị trường tiền tệ khi nhu cầu vốn cho vay của các ngân hàng thương mại cũng có xu hướng bật tăng kể từ tháng 3 trở lại đây. Cụ thể sau 2 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng âm, tín dụng từ tháng 3 đến tháng 6 cũng đã phục hồi mạnh trở lại. Đặc biệt, định hướng chung của ngành ngân hàng cũng vẫn tiếp tục thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong các tháng cuối năm.

Tại hội nghị ngành ngân hàng về giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng diễn ra giữa năm 2024, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, cũng như nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của người dân, doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các quy định pháp luật trong hoạt động cấp tín dụng, bổ sung quy định về đơn giản hóa thủ tục đối với các khoản cho vay tiêu dùng, các khoản cho vay nhỏ lẻ phục vụ đời sống; quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng…

Ở góc độ từng ngân hàng cụ thể, một số ngân hàng cũng vẫn ra các mục tiêu khá tham vọng cho việc đẩy mạnh tín dụng trong nửa cuối năm 2024. Ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cho biết, với mục tiêu năm nay tăng trưởng khoảng 15,5%, chúng tôi cần đạt tăng trưởng khoảng 8% trong sáu tháng cuối năm và MB dự kiến sẽ hoàn thành mục tiêu vào đầu hoặc giữa quý IV.

Những hiệu ứng có thể xảy ra

Diễn biến tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thường tạo ra tâm lý có phần tiêu cực hơn đối với các thị trường tài sản như vàng, chứng khoán, bất động sản… do lãi suất tăng dẫn đến tăng chi phí cơ hội về vốn cho việc việc đầu tư tài sản.

Câu chuyện còn chưa xa có thể kể đến là thời điểm cuối năm 2022, khi các ngân hàng liên tục tăng lãi suất thì cũng là thời điểm thị trường bất động sản đi vào giai đoạn “ngủ đông”, trong khi chứng khoán cũng chứng kiến đợt suy giảm mạnh rơi xuống vùng đáy 950 điểm vào hồi cuối tháng 11/2022.

Mặc dù vậy, một số nhà quan sát cho rằng, bối cảnh lãi suất giai đoạn này cũng khác nhiều so với thời kỳ cuối năm 2022. Cụ thể, thời điểm cách đây gần 2 năm, thị trường tiền tệ chứng kiến một giai đoạn “bùng nổ” của lãi suất và đó là giai đoạn khá nóng của cuộc đua tăng lãi suất, với lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã chạm ngưỡng 11,5%/năm, chưa kể nhiều ngân hàng còn đưa ra các hình thức khuyến mại, tặng quà để tăng sức hút với người gửi tiền. Khi đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã phải có nhiều cuộc họp để đi đến đồng thuận từ các hội viên không để lãi suất huy động vượt quá 9,5%.

Trong khi đó, bối cảnh lãi suất tăng trong hơn 3 tháng qua có đặc điểm khác bởi dù các ngân hàng nhiều lần điều chỉnh tăng lãi suất nhưng mỗi lần chỉ là mức điều chỉnh rất nhẹ. Bà Phan Thị Thu Hằng -Trưởng Phòng Khối tư vấn đầu tư thuộc Công ty chứng khoán VPS cho biết, lãi suất gần đây có tăng nhưng thực chất chỉ tăng trên nền vùng đáy rất thấp giai đoạn đầu năm 2024. Theo đó, mặt bằng lãi suất huy động dù đã tăng nhưng vẫn ở mức thấp hơn so với giai đoạn trước dịch Covid-19 và điều đó cho thấy diễn biến tăng lãi suất chưa đủ tác động đáng kể đến các kênh tài sản, trong đó có chứng khoán.

Trong khi đó, áp lực tăng lãi suất trong nước gần đây cũng đang được giải tỏa bởi các yếu tố quốc tế, khi các chỉ số vĩ mô của Mỹ mới xuất hiện hậu thuẫn cho khả năng chắc chắn hơn về việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm hạ lãi suất. Dữ liệu công bố mới nhất cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ trong tháng 6 đã tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,3% so với tháng 5. CPI tháng 6 được dự báo tăng 3,1%. CPI lõi (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) đã tăng 3,3% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn so với mức dự báo 3,4% và mức tăng 3,4% được thấy trong báo cáo tháng 5./.

Chí Tín

Đọc thêm

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,940 ▼80K 17,250 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 ▼70K 17,240 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼400K 15,700 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼400K 15,650 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 ▼130K 17,020 ▼130K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 ▼130K 16,970 ▼130K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 ▼130K 16,950 ▼130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
NL 99.90 15,500 ▼70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530 ▼70K
Trang sức 99.9 16,390 ▼90K 17,090 ▼90K
Trang sức 99.99 16,400 ▼90K 17,100 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 ▼6K 17,252 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 ▼6K 17,253 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 ▼1527K 172 ▼1554K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 ▼1527K 1,721 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 ▼1509K 1,705 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 ▼594K 168,812 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 ▼450K 128,038 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 ▲96441K 116,102 ▲104451K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 ▼366K 104,165 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 ▼350K 99,561 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 ▼250K 71,256 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cập nhật: 07/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80