Lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt, hệ thống vẫn ổn định thanh khoản

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất thị trường tiền tệ liên ngân hàng có một số thời điểm tăng vọt có lúc tạo ra tâm lý “bất an” cho giới đầu tư tài chính. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, diễn biến trên chỉ là tạm thời và thanh khoản chung của hệ thống ngân hàng vẫn trong trạng thái ổn định.
aa
Lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt, hệ thống vẫn ổn định thanh khoản
Việc lãi suất liên ngân hàng tăng có thể là một tín hiệu cho thấy ngân hàng đang có nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Ảnh: TL

Lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt

Diễn biến tăng nóng của lãi suất thị trường liên ngân hàng ghi nhận vào tuần gần cuối tháng 2/2024. Khi đó, lãi suất cho vay qua đêm có thời điểm vọt tăng lên mức 4,14%/năm. Mức lãi suất này tiến khá gần với trần lãi suất 5%, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, trần lãi suất qua đêm được thực hiện theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 của NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Đây là diễn biến khá bất ngờ đối với lãi suất liên ngân hàng bởi mặt bằng lãi suất thị trường này luôn duy trì ở mức thấp trong suốt một giai đoạn dài từ cuối năm 2023 sang đầu năm 2024.

Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong suốt giai đoạn từ giữa tháng 11/2023 đến giữa tháng 12/2023 chỉ loanh quanh ở mức rất thấp khoảng 0,14 – 0,18%. Trong một số ngày cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 1/2023, lãi suất qua đêm liên ngân hàng có thời điểm nhích tăng, nhưng cũng chỉ khoảng trên dưới 1%. Sau đó, lãi suất thị trường này lại quay về trạng thái giảm rất thấp, kéo dài trong suốt tháng 1/2023, đặc biệt có thời điểm lãi suất qua đêm về mốc chỉ còn 0,13%, là mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua.

Mặt bằng lãi suất thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã bắt đầu có những tín hiệu “trỗi dậy” từ khoảng đầu tháng 2/2024 với chu kỳ bắt đầu vọt lên khoảng trên 2% thời điểm đầu tháng, quay đầu giảm vào giữa tháng trước khi bất tăng mạnh vào cuối tháng. Sau khi đạt đỉnh 4,14%, hiện tại lãi suất cho vay qua đêm đã quay về mức dưới 3,66%.

Thanh khoản hệ thống vẫn ổn định

Việc lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trong một số thời điểm đã có tác động tâm lý ít nhiều đối với các nhà đầu tư tài chính, trong đó “điểm nhấn” là phiên giảm điểm mạnh trên thị trường chứng khoán diễn ra hôm 23/2. Mặc dù vậy, tâm lý giới đầu tư cũng ổn định trở lại khá nhanh và thị trường chứng khoán đã bật tăng mạnh trở lại vào đầu tuần tiếp theo.

Trước diễn biến như trên của lãi suất và của thị trường chứng khoán, ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường thuộc Công ty Chứng khoán VNDirect cho biết, việc thị trường áp sát vùng kháng cự mạnh và thông tin lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh trong một vài phiên tuần trước đã khiến tâm lý nhà đầu tư thận trọng và kích hoạt làn sóng chốt lời hôm 23/2.

Tuy nhiên theo ông Hinh, đà tăng của lãi suất liên ngân hàng chỉ là tạm thời do sự thiếu hụt thanh khoản cục bộ chứ không đại diện cho bức tranh chung của hệ thống. Trên thị trường một (thị trường khu vực dân cư), một số ngân hàng vẫn tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong khi tín dụng tháng 1 toàn hệ thống tăng trưởng âm do hiệu ứng đầu năm. “Với việc nhu cầu tín dụng hiện chưa cao, chúng tôi cho rằng áp lực lên lãi suất huy động và cho vay sẽ chưa lớn và việc tăng gần đây của lãi suất liên ngân hàng sẽ sớm lắng dịu” - ông Hinh nói.

Tương tự ý kiến ông Hinh, một số chuyên gia tài chính khác cũng cho rằng động thái tăng của lãi suất liên ngân hàng tại một số thời điểm chỉ là những tín hiệu cục bộ và chưa phải bức tranh chung về thanh khoản hệ thống. Trao đổi với TBTCVN, TS. Châu Đình Linh - giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, lãi suất liên ngân hàng tăng là do nhu cầu vốn đáp ứng thanh khoản, nhưng có thể xuất phát từ nhu cầu riêng của một vài ngân hàng nhỏ. Nó phản ánh trạng thái huy động vốn của các ngân hàng không giống nhau.

Trong khi đó, thực tế hiện nay cho thấy các ngân hàng lớn dù họ đang để lãi suất rất thấp nhưng vẫn thu hút tiền gửi, đó thường là những ngân hàng có giá trị thương hiệu cao, quy mô tài sản lớn. Theo đó, các ngân hàng này thường là những người cho vay trên thị trường liên ngân hàng.

Lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt, hệ thống vẫn ổn định thanh khoản

Theo dõi lãi suất huy động của các ngân hàng lớn

Việc lãi suất liên ngân hàng tăng tuy có thể là một tín hiệu cho thấy có ngân hàng trong hệ thống đang có nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, nhưng thường họ là nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và có sự ảnh hưởng không lớn trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Do đó, nhìn một cách tổng thể về tình trạng cân đối dòng vốn của toàn hệ thống, chúng ta cần quan sát diễn biến lãi suất huy động có kỳ hạn của nhóm các ngân hàng lớn.

TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Chí Tín

Đọc thêm

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

(TBTCO) - Từ những tiệm cầm đồ truyền thống vốn nhiều góc khuất, ngành cầm đồ chuyển mình mạnh mẽ, nhờ công nghệ và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Với quy mô dư nợ khoảng 10,3 tỷ USD, chiếm áp đảo 68% thị trường tài chính thay thế, các chuỗi cầm đồ thế hệ mới nổi lên như kênh tiếp cận vốn minh bạch, tiện lợi cho nhóm khó vay ngân hàng và tệp khách trẻ đầy tiềm năng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 14,150 14,350
Nguyên Liệu 99.9 14,100 14,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18044 18318 18897
CAD 18254 18530 19146
CHF 32569 32953 33599
CNY 0 3854 3947
EUR 29890 30112 31196
GBP 34495 34887 35825
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14986 15577
SGD 19972 20254 20826
THB 723 786 840
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,113 26,113 26,433
USD(1-2-5) 25,069 - -
USD(10-20) 25,069 - -
EUR 30,052 30,076 31,439
JPY 159.88 160.17 169.44
GBP 34,696 34,790 35,916
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,460 18,519 19,154
CHF 32,846 32,948 33,831
SGD 20,118 20,181 20,932
CNY - 3,825 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 771.3 780.83 834.28
NZD 14,990 15,129 15,540
SEK - 2,766 2,857
DKK - 4,021 4,153
NOK - 2,729 2,822
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,051.24 - 6,816.75
TWD 753.53 - 910.7
SAR - 6,900.62 7,251.62
KWD - 83,531 88,666
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,093 26,113 26,433
EUR 29,988 30,108 31,297
GBP 34,704 34,843 35,862
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 32,631 32,762 33,682
JPY 159.89 160.53 168.33
AUD 18,247 18,320 18,912
SGD 20,169 20,250 20,836
THB 789 792 827
CAD 18,458 18,532 19,095
NZD 15,092 15,629
KRW 16.68 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26147 26147 26433
AUD 18233 18333 19258
CAD 18447 18547 19558
CHF 32846 32876 34455
CNY 3835 3860 3995.1
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30088 30118 31840
GBP 34810 34860 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.79 161.29 171.82
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20135 20265 20993
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15250000
SBJ 13500000 13500000 15250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,433
USD20 26,146 26,196 26,433
USD1 23,917 26,196 26,433
AUD 18,269 18,369 19,481
EUR 30,250 30,250 31,656
CAD 18,396 18,496 19,802
SGD 20,223 20,373 20,936
JPY 161.14 162.64 167.21
GBP 34,711 35,061 36,149
XAU 14,978,000 0 15,182,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80