Lãi suất ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2021?

Đối với lãi suất ngân hàng khi gửi tiết kiệm trực tuyến, ở kỳ hạn từ 6-36 tháng, SCB là ngân hàng chiếm thứ hạng lãi suất cao nhất hiện nay.
aa
Lãi suất ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2021?
Lãi suất ngân hàng được điều chỉnh tăng, giảm đan xen trong thời gian qua. (Nguồn: Lao động)

Lãi suất ngân hàng nào cao nhất?

Trong suốt tháng 7/2021 đến nay, mặt bằng lãi suất tiết kiệm chưa có nhiều biến động. Một số ngân hàng tiến hành điều chỉnh lãi suất huy động nhưng chỉ ở mức tăng, giảm nhẹ.

Việc điều chỉnh lãi suất tiết kiệm tăng, giảm đan xen ở các ngân hàng là diễn biến bình thường, tùy vào nhu cầu huy động vốn của mỗi ngân hàng ở từng giai đoạn.

Lãi suất tiết kiệm khi gửi trực tiếp tại quầy:

Gửi tiết kiệm kỳ hạn từ 1-3 tháng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Dầu khí Toàn cầu (GPBank) có mức lãi suất cao nhất là 4%. Ngoài ra, các ngân hàng còn lại có mức lãi suất giao động không chênh lệch nhiều từ 3-3,5%.

Gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (CBBank) giữ mức lãi suất lần lượt là 6.25% và 6.35%, cao nhất so với các ngân hàng còn lại.

Gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, ngân hàng có lãi suất cao nhất là Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) với mức lãi suất 6.8%

Gửi tiết kiệm các kỳ hạn dài hơn như 13, 18, 24, 36 tháng, Ngân hàng TMCP Kiên Long có mức lãi suất cao nhất. Mức lãi suất 6.9% kỳ hạn 13 tháng, cùng mức lãi suất 7.1% cho các kỳ hạn 18, 24, 36 tháng.

Lãi suất tiết kiệm khi gửi trực tuyến:

Kỳ hạn 1 tháng, khi gửi tiết kiệm trực tuyến có khá nhiều ngân hàng có mức lãi suất hấp dẫn lên đến 5.5% bao gồm: Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Bắc Á, Bảo Việt, Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB), SCB, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB).

Kỳ hạn 3 tháng, hầu hết các ngân hàng đều dao động mức lãi suất từ 5-5.5%

Kỳ hạn từ 6-36 tháng, SCB là ngân hàng chiếm thứ hạng lãi suất cao nhất. Kỳ hạn 6 tháng: 8.21%, 9 tháng: 8.36%, 12 tháng: 8.66%, 18-24-36 tháng: 8.76%.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất của các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân cao hơn các ngân hàng có vốn nhà nước từ 1% đến 2%.

Mới đây, có đề xuất đưa lãi suất tiết kiệm về 0% nhưng biểu lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng không những giảm mà còn có xu hướng tăng.

Xu hướng tăng lãi suất huy động đã có từ cuối quý II/2021 và vẫn tiếp tục trong thời gian tới. Công ty Chứng khoán SSI nhận định, lãi suất tiền gửi có thể nhích tăng ngay từ đầu quý III/2021 với mức tăng khoảng 0,5 điểm % trong khi lãi suất cho vay vẫn sẽ ổn định trong nửa cuối năm nay.

Thống nhất giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp

Các ngân hàng đã thống nhất sẽ giảm lãi suất khoản vay hiện hữu cho doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng bởi Covid-19 từ nay đến hết năm.

Theo chỉ đạo của Phó thống đốc Đào Minh Tú, 16 ngân hàng bao gồm: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), Ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), MSB, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), ACB, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank) đã đồng thuận việc sẽ giảm lãi cho doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đánh giá: "Việc giảm lãi suất là rất khó nhưng lúc này rất cần sự chia sẻ, cảm thông của ngành ngân hàng đối với doanh nghiệp".

Tuy nhiên, các ngân hàng cũng chia sẻ sẽ không giảm lãi suất "cào bằng".

Ông Phạm Quang Thắng, Phó Tổng Giám đốc Techcombank cho rằng, thay vì hỗ trợ một cách "cào bằng", ngân hàng nên tập trung hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất thiết yếu cho nền kinh tế, doanh nghiệp có lực lượng lao động lớn.

Ông Thắng nhấn mạnh: "Với các doanh nghiệp bất động sản đang lãi lớn, doanh nghiệp xuất khẩu hay cá nhân vay tiền mua ô tô..., ngân hàng không nên hỗ trợ lãi suất. Bên cạnh đó, cần có cái nhìn cởi mở hơn với việc xem xét cho vay mới những khách hàng cơ cấu nợ hay chuyển nhóm nợ"

Còn theo Phó Tổng Giám đốc MB Phạm Thị Trung Hà, MB sẽ hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp không có doanh thu hoặc doanh thu giảm (lĩnh vực lưu trú, dịch vụ...) với mức giảm lãi suất tối thiểu 1%. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng sẽ hỗ trợ lãi suất với các doanh nghiệp sản xuất và khách hàng cá nhân (đối tượng trả góp từ lương).

Một số ngân hàng cho biết, việc giảm lãi suất cho vay sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch lợi nhuận của họ trong năm nay.

Đại diện LienvietPostBank thông tin, với tổng dư nợ của ngân hàng khoảng 191.000 tỷ đồng, nếu ngân hàng này giảm lãi suất khoảng bình quân 1% một năm, lợi nhuận sẽ giảm khoảng 600 tỷ đồng.

Còn với tổng dư nợ khoảng 350.000 tỷ của Sacombank, Phó Tổng Giám đốc Sacombank Phan Đình Tuệ cho rằng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm trên nghìn tỷ (tương đương 40% kế hoạch lợi nhuận) nếu giảm lãi suất 1% trong vòng 5-6 tháng. Việc này cần sự chấp nhận của cổ đông, ông Tuệ cho biết.

Để hỗ trợ doanh nghiệp, Sacombank sẽ giảm lãi suất với các đối tượng thực sự khó khăn. Còn với những khách hàng có dư nợ hàng nghìn tỷ đồng và kinh doanh có lãi, ngân hàng không thấy họ cần đến việc hỗ trợ.

baoquocte.vn

Đọc thêm

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 11/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18127 18402 18978
CAD 18227 18503 19122
CHF 31308 31687 32335
CNY 0 3823 3919
EUR 29508 29729 30810
GBP 34283 34674 35623
HKD 0 3175 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14816 15404
SGD 19938 20220 20790
THB 701 764 818
USD (1,2) 25660 0 0
USD (5,10,20) 25698 0 0
USD (50,100) 25726 25740 26110
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 29,561 29,585 30,988
JPY 164.25 164.55 174.53
GBP 34,496 34,589 35,787
AUD 18,363 18,429 19,129
CAD 18,414 18,473 19,158
CHF 31,631 31,729 32,669
SGD 20,077 20,139 20,929
CNY - 3,788 3,933
HKD 3,237 3,247 3,384
KRW 17.85 18.62 20.25
THB 751.04 760.32 814.39
NZD 14,828 14,966 15,411
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,965 4,106
NOK - 2,767 2,870
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.87 - 6,718.86
TWD 742 - 899.01
SAR - 6,779.73 7,146.27
KWD - 82,216 87,489
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 29,582 29,701 30,892
GBP 34,480 34,618 35,648
HKD 3,236 3,249 3,366
CHF 31,450 31,576 32,506
JPY 164.56 165.22 173.18
AUD 18,347 18,421 19,017
SGD 20,142 20,223 20,820
THB 767 770 807
CAD 18,424 18,498 19,092
NZD 14,906 15,447
KRW 18.51 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25740 25740 26100
AUD 18338 18438 19364
CAD 18419 18519 19530
CHF 31568 31598 33180
CNY 3803.9 3828.9 3964
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29705 29735 31458
GBP 34614 34664 36416
HKD 0 3330 0
JPY 165.12 165.62 176.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20107 20237 20958
THB 0 731.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 11/09/2026 01:30
Ngân hàng