Nâng ngưỡng khấu trừ thuế thu nhập cá nhân: Bước ngoặt “bảo vệ” quyền lợi người lao động
Giảm áp lực từ việc điều chỉnh ngưỡng bắt buộc khấu trừ
Sau nhiều năm vận hành theo các định mức cũ có phần không còn tương thích với biến động của chỉ số giá tiêu dùng và thực tế thu nhập đại chúng, quy định mới tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân đã tạo nên một bước chuyển dịch lớn. Quy định mới đã nâng ngưỡng thu nhập làm căn cứ bắt buộc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% tại nguồn đã được nâng từ 2 triệu đồng/lần chi trả lên mức 5 triệu đồng/lần chi trả.
Nhiều ý kiến cho rằng, thay đổi này đem lại những tác động tích cực đến đời sống an sinh của người lao động tự do và dòng tiền vận hành của doanh nghiệp.
![]() |
| Ảnh được thiết kế có sự hỗ trợ của AI |
Cụ thể, đối với người nộp thuế là lao động vãng lai, tự do, quy định mới giúp giảm thiểu tối đa tình trạng áp lực tài chính ngắn hạn khi một phần thù lao xứng đáng bị tạm giữ lại tại nguồn khi chưa đạt ngưỡng thu nhập chịu thuế thực tế. Quy định mới giúp người lao động có thêm dòng tiền chi tiêu trực tiếp để cải thiện và trang trải cuộc sống hằng ngày.
Đối với tổ chức chi trả là doanh nghiệp, quy định mới cắt giảm đáng kể các chi phí tuân thủ hành chính, giảm tải khối lượng hồ sơ chứng từ, thủ tục cấp chứng từ khấu trừ thuế đối với những khoản thù lao nhỏ lẻ phát sinh trong kỳ tính thuế.
Bên cạnh đó, chính sách mang đến sự linh hoạt thông qua cơ chế mở đối với các khoản chi trả dưới ngưỡng 5 triệu đồng. Theo quy định mặc định tổ chức chưa thực hiện tạm khấu trừ thuế. Tuy nhiên, nếu người lao động dự tính tổng thu nhập trong năm từ nhiều nguồn của mình ở mức cao và chủ động có yêu cầu, doanh nghiệp vẫn được quyền khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%. Điểm bổ sung này giúp người nộp thuế chủ động phân bổ nghĩa vụ tài chính đều trong năm, tránh áp lực nợ thuế dồn tích lớn khi thực hiện quyết toán thuế vào cuối năm tài chính.
Làm rõ bản chất các khoản thu nhập
Để hạn chế tối đa rủi ro, các tổ chức chi trả cần hiểu đúng và định vị chính xác bản chất của dòng tiền chi trả. Theo quy định hiện hành, cơ chế tạm khấu trừ tại nguồn 10% trên số tiền chi trả được áp dụng đồng nhất cho các khoản tiền có bản chất là tiền lương, tiền công, tiền thù lao, và các khoản chi mang tính chất thu nhập khác được chi trả cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng.
![]() |
| Quy định mới đã nâng ngưỡng khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tại nguồn từ 2 triệu đồng/lần chi trả lên mức 5 triệu đồng/lần chi trả. Ảnh: Tuấn Nguyễn |
Một trong những điểm dễ sai sót nhất trước đây là việc xử lý thuế đối với các khoản tiền chi trả cho người lao động đã nghỉ việc tại doanh nghiệp nay đã được Nghị định 253/2026/NĐ-CP chuẩn hóa rõ ràng. Bởi thực tế, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp thường phát sinh việc chi trả các khoản tiền lương tồn, thưởng hiệu quả công việc, thưởng doanh số muộn hoặc các chế độ khác.
Theo đó, kể từ thời điểm quyết định chấm dứt hợp đồng lao động có hiệu lực pháp lý, mối quan hệ lao động chính thức đã khép lại. Do đó, bất kỳ khoản thu nhập nào phát sinh từ tiền lương, tiền công được chi trả sau thời điểm này, nếu đạt giá trị từ 5 triệu đồng/lần trở lên, đều không được phép áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần nữa. Thay vào đó, doanh nghiệp bắt buộc phải chuyển phương pháp khấu trừ, áp dụng khấu trừ thuế cố định 10% tại nguồn.
Sòng phẳng về trách nhiệm
Cơ chế cho phép người nộp thuế lập Bản cam kết thu nhập (khi ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của bản thân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế) gửi tổ chức chi trả để tạm thời chưa khấu trừ thuế 10% là một giải pháp mang tính nhân văn tốt đẹp. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, không ít doanh nghiệp mang tâm lý e ngại, lúng túng vì lo sợ chịu trách nhiệm liên đới nếu người lao động cam kết không trung thực.
Nghị định mới đã tái cấu trúc lại hành lang trách nhiệm này một cách rất sòng phẳng và minh bạch: Thứ nhất, quy định rõ trách nhiệm cá nhân. Theo quy định mới, cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Như vậy, nếu cá nhân cố tình khai báo sai lệch (chẳng hạn như lập bản cam kết tại nhiều tổ chức chi trả khác nhau để né nghĩa vụ khấu trừ thuế), cơ quan thuế sẽ xử lý và áp dụng các biện pháp xử phạt chậm nộp đối với chính cá nhân đó, giải phóng hoàn toàn rủi ro bị phạt liên đới cho doanh nghiệp làm đúng quy trình, quy định.
Thứ hai, chuẩn hóa nghĩa vụ của doanh nghiệp. Theo quy định mới, căn cứ vào bản cam kết hợp pháp của cá nhân, doanh nghiệp thực hiện chi trả thu nhập, tạm thời chưa khấu trừ thuế tại thời điểm chi trả. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải có trách nhiệm kê khai, báo cáo theo quy định. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn bắt buộc phải tổng hợp đầy đủ danh sách và thu nhập của những cá nhân làm cam kết hay không để nộp trong hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân./.
| Khuyến nghị giải pháp an toàn dành cho đơn vị chi trả thu nhập Để vận hành và biến những thay đổi pháp lý này thành lợi thế, doanh nghiệp cần chủ động triển khai một số giải pháp đồng bộ. Theo đó, doanh nghiệp cần rà soát, tổng hợp đầy đủ các trường hợp chi trả từ ngưỡng 5 triệu đồng trở lên để xác định đối tượng phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân 10%. Trường hợp người lao động chuyển trạng thái sang “Đã chấm dứt hợp đồng lao động”, mọi khoản chi lương/thưởng tồn đọng sau đó phải tự động chuyển về diện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân 10% tại nguồn nếu đạt trị giá quy định. Không chấp nhận các bản cam kết lập khi người lao động chưa được cấp mã số thuế. Mỗi bộ hồ sơ của lao động vãng lai không khấu trừ thuế phải lưu trữ kèm theo bản sao Căn cước công dân, Hợp đồng công việc và Bản cam kết hợp pháp lập riêng cho năm tài chính phát sinh để phục vụ công tác quyết toán thuế thu nhập cá nhân sau này. Việc thấu hiểu và thực thi chuẩn xác các điểm sửa đổi bổ sung về thuế thu nhập cá nhân theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP không chỉ là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm tuân thủ pháp luật của cả đơn vị chi trả và người lao động. Sự minh bạch trong công tác quản lý thuế chính là nền tảng vững chắc nhất giúp doanh nghiệp xây dựng lá chắn rủi ro, đảm bảo an toàn, hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai. |





