Lãi suất tiết kiệm tăng, tiền gửi từ dân cư đổ mạnh vào ngân hàng cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng tiền nhàn rỗi từ cả dân cư và doanh nghiệp đang đổ mạnh vào hệ thống ngân hàng cuối tháng 9/2024, lần lượt tăng 6,5% và 3,43% so với cuối năm 2023. Động thái ồ ạt tăng lãi suất của nhiều ngân hàng cuối năm hứa hẹn đẩy tốc độ tăng trưởng huy động cao hơn, kéo gần mức chênh lệch tăng trưởng tín dụng và đáp ứng nhu cầu vốn mùa vụ cuối năm.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2024 Nhiều ngân hàng tăng lãi suất để hút tiền gửi dài hạn Lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay liệu có tăng theo?

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố số liệu về tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến tháng 9/2024. Trong đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt hơn 7,07 triệu tỷ đồng, tăng 3,43% so với cuối năm ngoái; còn tiền gửi của dân cư đạt hơn 6,95 triệu tỷ đồng, tăng ở mức cao hơn, đạt 6,5%.

Nâng lãi suất hút vốn từ dân cư

Báo cáo cập nhật ngành ngân hàng của VPBankS Research cho thấy, tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng với chênh lệch khoảng 4% vào cuối quý III/2024. Tăng trưởng huy động toàn ngành vẫn chưa bằng các năm trước, hiện mới ở mức 4,79% so với đầu năm, tạo ra chênh lệch khoảng 4% so với tăng trưởng tín dụng do mặt bằng lãi suất huy động còn thấp.

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 11/2024, hàng loạt ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng tư nhân vừa và nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm ở các kỳ hạn trung bình ở nhằm huy động vốn cho mùa vụ cuối nay, điều này cho thấy áp lực huy động nằm ở các ngân hàng này.

Lãi suất tiết kiệm tăng, tiền gửi từ dân cư đổ mạnh vào ngân hàng cuối năm
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.

"Các ngân hàng nhỏ và vừa chưa có những lợi thế cạnh tranh về huy động ngoài tiền gửi như các ngân hàng lớn nên lãi suất huy động tăng có thể gây áp lực tăng chi phí vốn cho các ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng nhỏ và vừa. Điều này có thể ảnh hưởng đến NIM (biên lãi ròng) nếu không kiểm soát tốt chi phí" - VPBankS Research đánh giá.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN trước động thái ồ ạt tăng lãi suất của nhiều ngân hàng, ông Lê Hoài Ân - CFA Founder IFSS & Co-founder WiResearch, chuyên gia tài chính về ngân hàng cũng nhìn nhận việc tăng lãi suất tiết kiệm, dù không phổ biến, chủ yếu diễn ra ở một số nhóm ngân hàng quy mô nhỏ với nhu cầu thanh khoản cao để duy trì tăng trưởng tín dụng. Các ngân hàng này đang giải ngân tích cực vào các lĩnh vực ưu tiên như TPBank và OCB, với lãi suất tiết kiệm lên đến 7,5%/năm.

Lưu ý rủi ro khi cho vay vượt huy động

Thống kê của VPBankS Research cũng cho thấy, 17/27 ngân hàng có mức LDR thuần (dư nợ cho vay trên huy động vốn) từ 100% trở lên, các ngân hàng còn lại là các ngân hàng quy mô nhỏ. Nhiều ngân hàng có LDR thuần cao, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ như VPBank, VIB và các ngân hàng cho vay trọng tâm vào khối khách hàng doanh nghiệp lĩnh vực bất động sản như SeABank, Techcombank, LPBank với mức trên 100%.

Đây là tín hiệu cho thấy có áp lực thanh khoản, vì việc cho vay vượt quá huy động cho thấy nguồn vốn của các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào các nguồn vốn ngắn hạn hoặc thị trường liên ngân hàng. LDR toàn ngành đang có xu hướng tăng dần từ quý III/2019 đến quý III/2024. Điều này cho thấy sự mở rộng tín dụng mạnh mẽ hơn so với tăng trưởng huy động.

Đây là chiến lược phổ biến khi các ngân hàng tận dụng cơ hội mở rộng dư nợ nhưng theo giới phân tích, nếu huy động không bắt kịp, rủi ro thanh khoản sẽ gia tăng, đặc biệt trong môi trường lãi suất biến động. Những ngân hàng có LDR cao sẽ cần tăng cường huy động vốn để duy trì thanh khoản và đáp ứng nhu cầu tín dụng.

Dự báo về xu hướng lãi suất huy động thời gian tới, nhóm chuyên gia của VPBankS Research cho rằng, xu hướng nền lãi suất sẽ đi ngang sang 2025, do môi trường lãi suất thấp được duy trì. Tuy nhiên, có khả năng tăng nhẹ vào nửa cuối năm 2025 nếu áp lực lạm phát gia tăng hoặc tăng trưởng tín dụng phục hồi mạnh. Sự phân hóa giữa các ngân hàng sẽ trở nên rõ ràng hơn, với nhóm ngân hàng nhỏ có xu hướng đưa ra mức lãi suất cao hơn để thu hút vốn.

"Xu hướng lãi suất huy động năm 2025 sẽ tiếp tục xoay quanh chính sách tiền tệ linh hoạt của NHNN, mức độ hồi phục kinh tế và diễn biến lạm phát. Đây sẽ là một năm ổn định nhưng đầy thách thức đối với các ngân hàng trong việc cân đối giữa huy động vốn và duy trì lợi nhuận" - VPBankS Research nhìn nhận./.

Lãi suất tiết kiệm tăng, tiền gửi từ dân cư đổ mạnh vào ngân hàng cuối năm
Ông Lê Hoài Ân - CFA Founder IFSS & Co-founder WiResearch, chuyên gia tài chính về ngân hàng.

Dư địa ổn định mặt bằng lãi suất cho vay

Dư địa giữ lãi suất cho vay ổn định trong bối cảnh ngân hàng tăng lãi suất đầu vào nhờ ba điểm. Thứ nhất, tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) cải thiện. CASA toàn ngành đã cải thiện đáng kể so với các quý trước, đặc biệt với những ngân hàng như Vietcombank hay Techcombank. Việc tăng CASA giúp giảm đáng kể chi phí vốn, hỗ trợ giữ ổn định lãi suất cho vay.

Thứ hai, về quản lý chi phí vận hành, các ngân hàng đẩy mạnh số hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI, giảm CIR (tỷ lệ chi phí trên thu nhập) toàn ngành xuống trong dài hạn, thậm chí sẽ có thể tiếp tục giảm sâu với xu hướng thẩm thấu về công nghệ ngày càng cao. Cùng với đó, từ đầu năm đến nay, mức tuyển dụng mới của các ngân hàng vẫn đang rất thấp. Thứ ba, chính sách hỗ trợ từ NHNN. NHNN tiếp tục sử dụng các công cụ như thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản và duy trì lãi suất ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80