Lợi nhuận hợp nhất của VietinBank lần đầu tiên đạt 17.000 tỷ đồng

Quỳnh Mai
Kết quả kinh doanh của VietinBank có sự phát triển mạnh mẽ, cải thiện cơ bản về chất, hiệu quả kinh doanh được nâng cao, cơ cấu thu nhập, cơ cấu khách hàng chuyển dịch theo hướng tích cực, lợi nhuận hợp nhất lần đầu tiên đạt mức 17.085 tỷ đồng...
aa

VTB

Ông Lê Đức Thọ - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT VietinBank phát biểu tại đại hội.

Ngày 16/4/2021 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank - mã chứng khoán: CTG) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2021. ĐHĐCĐ VietinBank đã thông qua nhiều nội dung quan trọng.

Thành tựu vượt bậc

Năm 2020, toàn hệ thống VietinBank tự hào vượt thách thức, khẳng định và phát huy tốt vai trò ngân hàng chủ lực, trụ cột và chủ đạo trong nền kinh tế, đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn của dịch bệnh Covid-19 để khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống.

Đồng thời, VietinBank đã đẩy mạnh đổi mới, cải cách, tái cấu trúc hoạt động, thực hiện thành công Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, kế hoạch kinh doanh trung hạn giai đoạn 2018 - 2020, đáp ứng vốn tự có của ngân hàng theo chuẩn mực Basel II và chính thức áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN từ đầu năm 2021.

Kết quả kinh doanh của VietinBank có sự phát triển mạnh mẽ, cải thiện cơ bản về chất, hiệu quả kinh doanh được nâng cao, cơ cấu thu nhập, cơ cấu khách hàng chuyển dịch theo hướng tích cực, lợi nhuận hợp nhất lần đầu tiên đạt mức 17.085 tỷ đồng.

Nguyên nhân đạt được thành công trên là cả quá trình tích lũy, tích tụ, nỗ lực của toàn hệ thống; là kết quả của quá trình tái cấu trúc, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với hiệu quả thực chất; làm tốt công tác quản lý cân đối vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ; quản trị mạng lưới hiệu quả đi đôi với phát triển các kênh phân phối mới; quản trị tài chính hiệu quả; nâng cao năng suất lao động.

VietinBank tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng chính đáng, cần thiết của nền kinh tế, phù hợp với năng lực vốn của Ngân hàng và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Chất lượng tài sản được nâng cao, tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,94%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 136%. VietinBank đã mua lại toàn bộ trái phiếu đặc biệt tại VAMC trong chưa đầy 2 năm thay vì 5 năm theo dự kiến nhờ đẩy mạnh công tác thu hồi và xử lý nợ xấu, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo. Tỷ lệ chi phí hoạt động so với tổng thu nhập hoạt động được kiểm soát ở mức 35,5%.

Trên cơ sở phát huy những thế mạnh trong hoạt động kinh doanh và tích cực triển khai các định hướng chiến lược, trong quý I/2021, VietinBank tiếp tục đạt được những kết quả kinh doanh tích cực. Các chỉ số về an toàn và hiệu quả hoạt động đều tốt hơn nhiều so với cùng kỳ, trong đó: Các hạng mục thu nhập hoạt động chính của ngân hàng đều có sự tăng trưởng trên 25% so với cùng kỳ năm 2020, chi phí hoạt động được quản trị hiệu quả, CIR duy trì ở mức hợp lý; Chất lượng tài sản được quản lý tốt, tỷ lệ nợ xấu được quản lý ở mức dưới 1%.

Đặc biệt, VietinBank tiếp tục chủ động thực hiện các giải pháp cân đối nguồn vốn hiệu quả, tiết giảm chi phí vốn để tạo nguồn lực tiếp tục triển khai mạnh mẽ các chính sách ưu đãi, giảm lãi suất cho vay và phí dịch vụ, luôn duy trì mặt bằng lãi suất cho vay, phí dịch vụ ở mức thấp, hợp lý nhất, hỗ trợ, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, phát huy vai trò NHTM chủ lực, trụ cột trong việc cung ứng vốn và dịch vụ tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu 2021

Năm 2021, VietinBank đặt ra các mục tiêu chính trong hoạt động kinh doanh bao gồm: Dư nợ tín dụng tăng trưởng 7,5%, tuân thủ hạn mức tín dụng NHNN phê duyệt (mức tăng trưởng cụ thể theo phê duyệt của NHNN và nhu cầu thực tế cần thiết của thị trường); nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng 8%-12%, có điều chỉnh phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của NHNN.

Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng được kiểm soát dưới 1,5%. Các tỷ lệ an toàn hoạt động tuân thủ theo quy định của NHNN. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ hiệu quả kinh doanh, đóng góp thiết thực và ngày càng lớn hơn vào sự phát triển của đất nước.

VTB
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên 2021 của VietinBank.

Trước những thách thức và yêu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế - xã hội và ngành Ngân hàng, hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và thay đổi nhanh chóng bao gồm các quy định pháp lý theo hướng chặt chẽ hơn, tiêu chuẩn cao hơn; áp lực cạnh tranh ngày càng cao, các tác động khó lường của đại dịch Covid-19, cũng như sự thay đổi công nghệ nhanh chóng, VietinBank cần tiếp tục bám sát tình hình để kịp thời đánh giá tác động tới hoạt động kinh doanh và đầu tư, đồng thời chủ động có các biện pháp ứng xử với các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

Năm 2021 là năm đầu tiên VietinBank thực hiện chiến lược phát triển 10 năm 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, và là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch kinh doanh trung hạn 2021 - 2023; với tiêu chuẩn hoạt động theo Basel II; điều này đòi hỏi Ngân hàng cần tiếp tục thay đổi rất lớn từ tư duy đến cách làm, đáp ứng yêu cầu mới, tiêu chuẩn mới trong hoạt động kinh doanh.

Để thực hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra, VietinBank cần nỗ lực đổi mới, triển khai có kết quả một số chủ trương lớn như: Thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ hoạt động kinh doanh, đi liền với cải thiện mạnh mẽ chất lượng và hiệu quả. Mở rộng quy mô hoạt động gắn với cải thiện mạnh mẽ chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng phù hợp đồng thời cân đối nguồn vốn hiệu quả. Đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với các lĩnh vực xanh, bảo vệ môi trường theo định hướng của NHNN về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, tăng cường kết nối chuỗi giá trị hiệu quả giữa các phân khúc, giữa ngân hàng mẹ và các công ty con, phát triển giải pháp tài chính toàn diện cho KH/nhóm KH gắn với nhu cầu của khách hàng, của thị trường. VietinBank khẳng định luôn đáp ứng chủ động, kịp thời tất cả các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cần thiết, chính đáng của nền kinh tế, phát huy tối đa vai trò là NHTM quốc gia, chủ lực, trụ cột và chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Gắn tăng trưởng của VietinBank với các ngành nghề kinh tế chủ lực, các khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước, khai thác hiệu quả các lợi thế kinh doanh của địa bàn và ưu tiên nguồn lực để gia tăng thị phần tại các địa bàn trọng điểm. Phát huy mạnh mẽ vai trò Trung tâm Khách hàng phía Nam (TTKH phía Nam), Trung tâm Phát triển giải pháp tài chính khách hàng trong chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VietinBank.

Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, chất lượng tăng trưởng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ; đẩy mạnh thu hồi nợ xử đã lý rủi ro, nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản. Năm 2021, VietinBank tuân thủ Thông tư 41 một cách đầy đủ, toàn diện, nâng cao tiêu chuẩn hoạt động tiệm cận theo thông lệ quốc tế.

Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với cho vay phục vụ đời sống, tín dụng tiêu dùng; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ cho vay bằng ngoại tệ theo chủ trương của Chính phủ và NHNN về hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế.

Tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN.

Chia sẻ về chiến lược hành động, tiềm năng và triển vọng của VietinBank trong các năm tới, ông Lê Đức Thọ - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT VietinBank cho biết: Kết quả kinh doanh năm 2020 là kết quả của cả quá trình nỗ lực vượt bậc; chủ động tái cấu trúc hoạt động thành công theo Phương án cơ cấu lại giai đoạn 2016 - 2020, kế hoạch trung hạn 2018 - 2020 và chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cải thiện hiệu quả.

Qua đó, cho thấy nỗ lực, tiềm năng, nguồn năng lượng rất lớn của hệ thống VietinBank, tạo tiền đề vững chắc để VietinBank xây dựng và tổ chức thực hiện thành công chiến lược phát triển dài hạn 10 năm 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045; trong đó, trước hết cần thực hiện thành công kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021 - 2023.

Có thể khẳng định rằng, hệ thống VietinBank chưa bao giờ có được tiềm lực tài chính, vị thế, uy tín như hiện nay. Những thành công của toàn hệ thống VietinBank cũng như những đóng góp của VietinBank đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn vừa qua đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và đánh giá cao.

Điều này tiếp thêm động lực và sức mạnh to lớn cho toàn hệ thống VietinBank, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đòi hỏi toàn hệ thống VietinBank cần phải tiếp tục nỗ lực và trách nhiệm cao hơn nữa, kiên định với định hướng chiến lược phát triển, hoàn thành xuất sắc các mục tiêu kế hoạch và chiến lược đề ra để phát triển mạnh mẽ, phụng sự đắc lực cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững, hội nhập với thế giới thành công./.

Quỳnh Mai

Quỳnh Mai

Đọc thêm

BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

(TBTCO) - Từ nay đến hết 30/6/2026, khách hàng nhận ngay combo hoàn tiền hấp dẫn và miễn phí thường niên trọn đời khi đăng ký mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard
Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược

Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược

(TBTCO) - Năm 2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được định hướng khoảng 15%, phản ánh xu hướng điều hành thận trọng. Theo đó, chiến lược phát triển của các ngân hàng cũng phân hóa rõ nét. Một số nhà băng tăng tốc mạnh nhờ dư địa nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém hoặc đang tái cơ cấu, trong khi đó, không ít nhà băng chọn hướng đi "chậm mà chắc".
Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát "vùng trũng"

Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát "vùng trũng"

(TBTCO) - Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 4.937 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% và cao nhất nhiều năm, chủ yếu nhờ hoạt động tài chính tiếp tục đóng vai trò “trụ đỡ”; ngược lại, mảng bảo hiểm cốt lõi vẫn chịu áp lực khi phí bảo hiểm gốc chỉ đạt 20.100 tỷ đồng. Tổng tài sản Công ty tiến sát 200.000 tỷ đồng, trong đó đầu tư trái phiếu đạt 92.609 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

(TBTCO) - Sáng 13/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 1 đồng lên 25.106 VND/USD trong phiên đầu tuần. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng được phép dao động trong khoảng 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, áp lực tỷ giá phần nào hạ nhiệt khi chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,65 điểm.
Giá vàng hôm nay ngày 13/4: Giá vàng duy trì mặt bằng giá 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 13/4: Giá vàng duy trì mặt bằng giá 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 13/4 không ghi nhận biến động đáng kể tại các thương hiệu lớn, duy trì ở mức 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng.
LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 10/4, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp với Sở Công thương Cần Thơ tổ chức chương trình “LPBank Connect - Kết nối địa phương, đồng hành cùng doanh nghiệp”, hướng tới tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼90K 17,150 ▼90K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼90K 17,160 ▼90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼90K 17,150 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,700 ▼100K 15,900 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,650 ▼100K 15,850 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,510 ▼90K 16,910 ▼90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,460 ▼90K 16,860 ▼90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,390 ▼90K 16,840 ▼90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,200 ▼1000K 171,200 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼90K 17,150 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼90K 17,150 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼90K 17,150 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,850 ▼70K 17,150 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,850 ▼70K 17,150 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,850 ▼70K 17,150 ▼70K
NL 99.90 15,600 ▲80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650 ▲100K
Trang sức 99.9 16,340 ▼70K 17,040 ▼70K
Trang sức 99.99 16,350 ▼70K 17,050 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼9K 17,152 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼9K 17,153 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,682 ▼9K 1,712 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,682 ▼9K 1,713 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,662 ▼9K 1,697 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,152 ▼146259K 16,802 ▼152109K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,538 ▼675K 127,438 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,658 ▲95931K 115,558 ▲103941K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,777 ▼549K 103,677 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,195 ▲81123K 99,095 ▲89133K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,022 ▼375K 70,922 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼9K 1,715 ▼9K
Cập nhật: 13/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18028 18303 18879
CAD 18493 18770 19387
CHF 32681 33065 33707
CNY 0 3800 3870
EUR 30148 30421 31450
GBP 34570 34962 35895
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15042 15630
SGD 20104 20387 20915
THB 732 795 849
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,352 30,376 31,629
JPY 160.88 161.17 169.88
GBP 34,798 34,892 35,874
AUD 18,276 18,342 18,916
CAD 18,709 18,769 19,342
CHF 33,000 33,103 33,870
SGD 20,276 20,339 21,014
CNY - 3,792 3,912
HKD 3,305 3,315 3,433
KRW 16.35 17.05 18.44
THB 782.1 791.76 842.23
NZD 15,071 15,211 15,564
SEK - 2,788 2,868
DKK - 4,062 4,179
NOK - 2,733 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.11 - 6,972.76
TWD 749.7 - 902.62
SAR - 6,919.88 7,244.04
KWD - 83,874 88,692
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,205 30,326 31,507
GBP 34,669 34,808 35,813
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,654 32,785 33,709
JPY 161 161.65 168.91
AUD 18,179 18,252 18,841
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 795 798 833
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 15,081 15,611
KRW 16.92 18.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26361
AUD 18208 18308 19231
CAD 18675 18775 19789
CHF 32915 32945 34532
CNY 3795.3 3820.3 3955.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30333 30363 32089
GBP 34862 34912 36683
HKD 0 3355 0
JPY 161.4 161.9 172.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15149 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20263 20393 21124
THB 0 761.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,361
USD20 26,169 26,219 26,361
USD1 26,169 26,219 26,361
AUD 18,243 18,343 19,451
EUR 30,459 30,459 31,870
CAD 18,608 18,708 20,013
SGD 20,331 20,481 21,750
JPY 161.92 163.42 168
GBP 34,707 35,057 36,240
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,704 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/04/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80