Lợi nhuận ngân hàng có thể suy giảm, nhưng bức tranh không quá xấu

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ cho thấy, các ngân hàng đang phải đối diện với thực trạng lợi nhuận có thể suy giảm tạm thời. Tuy nhiên, bức tranh kinh doanh của các ngân hàng cũng không quá xấu và giai đoạn này cũng là thời điểm phù hợp để các ngân hàng củng cố các yếu tố nền tảng, kiểm soát rủi ro trung và dài hạn.
aa

Những yếu tố tác động lên lợi nhuận

Tín dụng tăng trưởng chậm cùng với xu hướng lãi suất giảm đặt ra một số phán đoán cho rằng, các ngân hàng sẽ khó có thể có được những "mùa thu hoạch bội thu" như những năm trước.

Về tín dụng, trong 3 tháng đầu năm 2023, tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng chỉ đạt 2,06%, thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm 2022. Trong khi đó, chỉ trong tháng 3/2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã 2 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành và định hướng chung là đưa mặt bằng lãi suất cho vay xuống thấp hơn nữa.

Hiện tại, các ngân hàng thương mại đang điều chỉnh giảm lãi suất huy động để “cân bằng” lãi suất. Ảnh: DUY DŨNG
Hiện tại, các ngân hàng thương mại đang điều chỉnh giảm lãi suất huy động để “cân bằng” lãi suất. Ảnh: Duy Dũng

Hiện tại, các ngân hàng thương mại cũng đang điều chỉnh giảm lãi suất huy động để “cân bằng” 2 yếu tố lãi suất đầu vào - đầu ra. Tuy nhiên, một số khoản huy động vốn đã được huy động từ thời điểm lãi suất ở mặt bằng cao thời kỳ cuối năm 2022 vẫn còn trong kỳ hạn có thể sẽ là những “gánh nặng” đối với các ngân hàng trong việc duy trì hiệu quả kinh doanh trước yêu cầu phải thực hiện giảm lãi suất cho vay trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới.

Theo đánh giá của một số nhà chuyên môn, các yếu tố trên đều có thể tác động làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng, tuy nhiên, tác động có thể chỉ tạm thời và các ngân hàng có thể sớm vượt qua để lấy lại được “phong độ”. TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, quy mô tín dụng tăng chậm đúng là có khả năng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng từ hoạt động cho vay.

Tuy nhiên, các số liệu tăng trưởng trong quý I vừa qua có thể chỉ là tạm thời, chưa đại diện cho một giai đoạn lâu dài, đặc biệt là những tháng còn lại của năm 2023 tình hình sẽ thay đổi do tác động của các chương trình hỗ trợ phục hồi đang được thực thi khá mạnh mẽ.

Về vấn đề cân đối nguồn tiền gửi đầu vào huy động thời lãi suất cao cuối năm 2022, ông Linh cho biết, tính chất tiền gửi ngân hàng thường kỳ hạn không dài, thường dưới 1 năm. Bối cảnh hiện tại cũng cho thấy từ thời điểm đỉnh điểm lãi suất cao (khoảng tháng 10/2022) đến nay thì với những khoản tiền gửi dưới 6 tháng đã hoặc sắp đáo hạn. Hơn nữa trong các phương pháp tính toán, ngân hàng cũng đã có các phương án nghiệp vụ để cân đối khoảng cách chi phí đầu vào và thu nhập đầu ra để đảm bảo lợi nhuận phù hợp cho họ.

Mối quan tâm là kiểm soát rủi ro

Với những tính chất như trên, ngân hàng có thể không quá bi quan về tình hình lợi nhuận từ thu nhập lãi thuần, nhưng thực tế không hẳn họ không có điều gì phải lo lắng. Ông Linh cho biết, một số vấn đề khác có thể là mối quan tâm cho các ngân hàng, chủ yếu do quá khứ để lại như hiệu quả các khoản đầu tư chứng khoán, tình hình kiểm soát chất lượng nợ, hoặc những vấn đề về gia tăng cạnh tranh ở mảng dịch vụ làm tăng chi phí…

Chẳng hạn, chất lượng nợ nếu suy giảm cũng là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng do các ngân hàng sẽ phải tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Ngoài ra, rủi ro của các ngân hàng hiện nay cũng còn phát sinh từ nhiều yếu tố khác, liên quan cả đến các tranh chấp dân sự với khách hàng.

Thúc đẩy chuyển đổi số để giảm chi phí

Một trong những giải pháp giảm chi phí hoạt động về mặt lâu dài mà hầu hết các ngân hàng đang “chạy đua” để tối ưu hệ thống là thực hiện chuyển đổi số và thúc đẩy các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến nay 95% các tổ chức tín dụng đã và đang xây dựng, triển khai chiến lược chuyển đổi số tại đơn vị mình. Nhiều tổ chức tín dụng chuyển đổi số ở tốp đầu hiện đã đạt 90% giao dịch khách hàng thực hiện trên kênh số. Nhiều tổ chức tín dụng có hiệu quả hoạt động tốt nhờ tích cực chuyển đổi số.

Một trong những vấn đề rủi ro nảy sinh gần đây là có trường hợp khách hàng bị mất tiền trong tài khoản. Về mặt pháp lý, các quy trình nghiệp vụ liên quan đến giao dịch gửi tiền và rút tiền tại quầy cũng như giao dịch điện tử hiện nay đều đã được các tổ chức tín dụng ban hành đầy đủ, đảm bảo an toàn cho người gửi và rút tiền.

Tuy nhiên, thực tế vẫn đang có những diễn biến phức tạp cảnh báo các ngân hàng trong việc tăng cường kiểm soát rủi ro để hạn chế mất mát về tiền bạc lẫn uy tín.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, quy định pháp lý thì đều khá đầy đủ, nhưng thực tế có trường hợp cán bộ ngân hàng và khách hàng có quan hệ thân thiết, hoặc tin tưởng lẫn nhau, bỏ qua các bước quy định hoặc khách hàng ký sẵn thủ tục chứng từ rút tiền. Với những tình huống như trên, các ngân hàng sẽ cần sự xem xét, đánh giá thật khách quan nhằm tìm ra nguyên nhân thất thoát, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa khách hàng và cán bộ ngân hàng thông qua các giao dịch trước đó, sau đó là chuyển hồ sơ cho cơ quan pháp luật để xử lý.

Theo ông Hùng, để kiểm soát những rủi ro này, các ngân hàng cần quan tâm đến công tác đào tạo trình độ nghiệp vụ, giáo dục đạo đức cho các cán bộ nhân viên, định kỳ luân chuyển giao dịch, tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy trình giao dịch của cán bộ. Ngoài ra, các ngân hàng đã và đang áp dụng thông báo biến động số dư tất cả các tài khoản cho khách hàng thông qua tin nhắn SMS./.

Chí Tín

Đọc thêm

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

(TBTCO) - Hơn cả một giải pháp tài chính, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang cùng đối tác chiến lược Sun Group tái định nghĩa trải nghiệm ngân hàng với tư duy đổi mới và sản phẩm tiên phong. Mỗi giải pháp ngân hàng không chỉ mang lại hiệu quả tài chính mà còn mở ra cánh cửa bước vào hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam, cùng khách hàng tận hưởng một phong cách sống tinh hoa và trọn vẹn thấu cảm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 14,820
Miếng SJC Nghệ An 14,520 14,820
Miếng SJC Thái Bình 14,520 14,820
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 14,720
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 14,610
Trang sức 99.99 13,920 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 14,822
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 14,823
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 1,473
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 143,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 109,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 98,896
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 88,731
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 8,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 60,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cập nhật: 17/07/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80