Lợi nhuận ngân hàng tăng cao, bức tranh chưa hẳn toàn màu hồng

Chí Tín
(TBTCO) - Con số ước tính về lợi nhuận của một số ngân hàng trong quý II/2022 ghi nhận kết quả tăng trưởng khá tốt. Tuy vậy, khó khăn có thể rơi vào nửa cuối năm khi các yếu tố thuận lợi không còn, như việc đã hết thời hạn thực giãn nợ theo Thông tư 14/2021/TT-NHNN, nhiều ngân hàng đã cạn hạn mức tín dụng (room), nên không thể tiếp tục tạo lợi nhuận gia tăng từ cho vay, nguy cơ lạm phát có thể làm gia tăng nợ xấu…
aa

Tăng trưởng lợi nhuận vẫn khả quan

Hiện tại, nhiều ngân hàng vẫn chưa công bố chính thức báo cáo tài chính quý II/2022, tuy nhiên, thông tin ban đầu từ Trung tâm Phân tích Công ty chứng khoán SSI (SSI Research), nhiều ngân hàng được dự báo có kết quả tăng trưởng lợi nhuận khá ấn tượng trong quý II và 6 tháng đầu năm 2022.

Theo SSI Research, các ông lớn ngành ngân hàng đều đạt tăng trưởng khá tốt. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đạt lợi nhuận trước thuế trong quý II/2022 5,5 nghìn tỷ đồng (tăng 18% so với cùng kỳ), tăng trưởng tín dụng đạt 9-10%. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kỳ vọng đạt 4,6 - 4,7 nghìn tỷ đồng trong quý II/2022 (tăng 68% so với cùng kỳ); còn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam được dự báo lợi nhuận trước thuế ở mức 7 - 7,3 nghìn tỷ đồng (tăng 50% so với cùng kỳ)…

Nguồn: SSI Research.
Nguồn: SSI Research.

Không chỉ các ngân hàng quy mô lớn, nhóm các ngân hàng quy mô trung bình cũng ghi nhận những kết quả kinh doanh khá tốt ở một số ngân hàng. Với Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), ACB đã sử dụng phần lớn hạn mức tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 6/2022 (tăng 10% so với đầu năm, đồng thời tăng 16% so với cùng kỳ), điều này cho phép ngân hàng đạt được mức tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động ở mức tương đối tốt.

Tương tự, Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TP. Hồ Chí Minh (HDBank) cũng ghi nhận tăng trưởng tín dụng và huy động ở mức khá cao, nhờ đó có thể đạt được kết quả kinh doanh khả quan trong quý II, ước tính đạt 2,5 - 2,7 nghìn tỷ đồng. Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) kỳ vọng ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý II/2022 đạt 5,2 - 5,5 nghìn tỷ đồng (tăng 53-64% so với cùng kỳ); Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) có thể đạt lợi nhuận trước thuế là 7-7,2 nghìn tỷ đồng (tăng 20% so với cùng kỳ)…

Bức tranh chưa hẳn toàn mầu hồng

Kết quả kinh doanh tăng trưởng ấn tượng ghi nhận tại nhiều ngân hàng lớn cho thấy phần nào giới ngân hàng vẫn giữ được “phong độ” khá tốt. Tuy nhiên, bức tranh kinh doanh nửa phần còn lại của năm 2022 của giới ngân hàng có thể không hoàn toàn sáng màu nếu nhìn vào cục diện hiện tại, cùng những vấn đề mà giới ngân hàng sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.

TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, một trong những lý do khiến ngân hàng giữ được lợi nhuận ngay cả khi lãi suất huy động tăng nhờ yếu tố “thu lợi nhuận tuần hoàn”. Cụ thể, các ngân hàng tăng lãi suất huy động, nhưng không nhất thiết phải ký lại hợp đồng tín dụng khác với lãi suất mới để giữ khoảng cách lãi suất đầu vào/đầu ra mà thực chất phần lớn các hợp đồng tín dụng dài hạn thường để lãi suất thả nổi.

Cần đối chiếu tăng trưởng lợi nhuận với tăng trưởng tài sản

Các chuyên gia cũng cho rằng, khi nhìn vào tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng, các nhà đầu tư cũng nên nhìn và so sánh đối chiếu với tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng. Bởi lẽ, có những ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận cao, nhưng ngân hàng cũng tăng tổng tài sản nhanh trong giai đoạn đó thì các chỉ số cơ bản (ROA, ROE…) của ngân hàng thực tế cũng không cải thiện đáng kể.

Với tính chất này, lãi suất huy động cho dù tăng, nhưng cũng không làm suy giảm lợi nhuận ngân hàng ngay cả khi ngân hàng không cần công bố tăng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, về mặt dài hạn, lãi suất nếu tiếp tục tăng nữa do ảnh hưởng của lạm phát, thì hệ quả có thể xảy ra là gia tăng nợ xấu nếu khách hàng gặp khó khăn không có khả năng trả nợ.

Một yếu tố đáng quan tâm khác là trong nửa đầu năm 2022, các ngân hàng vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách quy định tại các văn bản về hoãn, giãn nợ, phí, cho các khách hàng bị khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (theo các Thông tư 01/2020/TT-NHNN, 03/2021/TT-NHNN, 14/2021/-NHNN). Tuy nhiên, từ ngày 30/6/2022 đã hết thời gian được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng theo Thông tư 14. Theo đó, sau thời điểm này, nhiều khoản nợ khách hàng gặp khó khăn như trước đây sẽ không được tiếp tục tái cơ cấu, nếu khách hàng vẫn không có khả năng trả nợ sẽ bị chuyển thành nợ xấu. Điều này đương nhiên sẽ xấu bớt đi bức tranh tài chính của các ngân hàng thể hiện trên báo cáo tài chính.

Ngoài ra, ông Châu Đình Linh cũng cho biết, việc một số ngân hàng có thể không còn nhiều “room” trong nửa cuối năm 2022, thì việc tăng trưởng lợi nhuận từ cho vay có thể sẽ bị chậm lại. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 30/6/2022, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 9,35%, theo đó, các ngân hàng bình quân đã sử dụng hết khoảng 2/3 hạn mức tăng trưởng 14% mà Ngân hàng Nhà nước giao. Đây có thể sẽ là một thế khó cho các ngân hàng trong thời gian tới nếu Ngân hàng Nhà nước không cho nới “room”.

Chí Tín

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

(TBTCO) - Theo Thông tư số 53/2026/TT-NHNN về quản lý rủi ro khi ứng dụng AI ngành ngân hàng, hệ thống AI tự động thanh toán trên 10 triệu đồng/giao dịch với khách hàng cá nhân, trên 50 triệu đồng với tổ chức, hoặc tự động quyết định cấp tín dụng từ 50 triệu đồng trở lên được xếp vào nhóm rủi ro cao. Các đơn vị phải thiết lập công cụ giám sát liên tục.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 10/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Cập nhật: 10/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30