Lợi nhuận nhiều ngân hàng vẫn được dự báo “thắng lớn”

Hải Băng
(TBTCVN) - Dù gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, tuy nhiên cả năm 2020, lợi nhuận sau thuế của khối ngân hàng niêm yết vẫn tăng trưởng mạnh ở mức 16,1%. Sang năm 2021, lợi nhuận kế toán của 12/26 ngân hàng niêm yết (chiếm 86,3% vốn hóa của khối ngân hàng) vẫn được dự báo tăng cao hơn năm 2020.
aa

nh

Nhiều ngân hàng vẫn được dự báo tăng lợi nhuận trong năm 2021.

Lợi nhuận trên đà tăng trưởng rất mạnh

Theo báo cáo mới nhất vừa phát hành của Công ty cổ phần FiinGroup (FiinGroup), trong quý IV/2020, tổng thu nhập hoạt động của 26 ngân hàng niêm yết tăng 20,3% so với quý liền kề và 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế tăng mạnh hơn ở mức tăng 27,8% so với quý III/2020 và 27,4% so với cùng kỳ 2019.

lai

Nhờ cải thiện lợi nhuận, các ngân hàng tiếp tục mạnh tay hơn trong việc trích lập dự phòng từ quý III/2020 với chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 27,8% so với quý II/2020 và 17,8% so với cũng kỳ. Quý IV/2020, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 6,4% so với quý III/2020 và tăng 31,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính cả năm 2020, lợi nhuận sau thuế của khối ngân hàng niêm yết vẫn tăng trưởng mạnh ở mức 16,1%. Tổng thu nhập hoạt động tăng 12,8% còn chi phí dự phòng rủi ro tăng 19,7% so với năm 2019.

“Do Thông tư 01/2020/TT-NHNN, dự phòng rủi ro vẫn chưa phản ánh đầy đủ tác động của Covid-19 lên lợi nhuận do các ngân hàng được giữ nguyên nhóm nợ cho các khoản vay bị ảnh hưởng bởi Covid-19”- các chuyên gia của FiinGroup lưu ý.

Các chuyên gia này cho biết thêm, các ngân hàng sẽ cân đối giữa lợi nhuận và chi phí dự phòng. Việc chi phí dự phòng tăng nhưng lợi nhuận vẫn tăng mạnh là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng và tác động của Covid-19 lên chi phí dự phòng và qua đó ảnh hưởng đến mức độ lợi nhuận của ngân hàng trong thời gian tới sẽ không quá lớn.

Cũng theo FiinGroup, biên lãi ròng (NIM) của nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân (JSCB) tăng ít hơn các ngân hàng quốc doanh (SOCB). Nhóm JSCB tiếp tục đà tăng 1,09% (+7,2 điểm cơ bản (bps)) trong quý IV trong khi đó, NIM của nhóm SOCB tăng 0,8% (+8,3 bps) trong quý IV/2020. Tăng trưởng NIM chủ yếu đến từ tín dụng cho vay khách hàng. Tổng thu nhập lãi cho vay khách hàng của 26 ngân hàng tăng 4,2% trong khi thu nhập lãi từ chứng khoán nợ giảm 0,5% so với quý liền kề trước đó. Các ngân hàng dẫn đầu về NIM trong quý IV/2020 (tính theo quý) bao gồm VPB (2,27%), TCB (1,44%), MBB (1,35%), HDB (1,2%), OCB (1,19%). Nếu quy ra năm thì tương đương với mức NIM ở các mức: VPB (9,06%), TCB (5,75%), MBB (5,42%), HDB (4,79%), OCB (4,78%). “Đây là mức rất cao so với bình quân ngành trong quý IV/2020 ở mức 3,84%” – chuyên gia của FiinGroup nhấn mạnh.

Lãi suất huy động tiếp tục giảm làm cho NIM được cải thiện. Trong khi thu nhập lãi và các khoản tương tự tăng 3,1% so với quý IV/2020 trong khi chi phí lãi và các khoản tương tự giảm 6%. Nhiều ý kiến cho rằng, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đóng góp lớn cho thực tế này nhưng số liệu của FiinGroup cho thấy mức tăng CASA 1,2% trong quý IV/2020 chỉ đóng góp một phần nhỏ.

Khác với xu hướng các năm trước khi tăng trưởng cho vay khách hàng luôn lớn hơn tăng trưởng tiền gửi khách hàng đáng kể, trong năm 2020, cho vay khách cơ bản tăng trưởng chậm hơn và chỉ bắt kịp tốc độ tăng trưởng tiền gửi vào cuối năm ở cùng mức 13,5%. Điểm đáng lưu ý là phần lớn tăng trưởng tín dụng được thực hiện trong quý IV/2020. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ và lãi từ các hoạt động còn lại đều tăng đáng kể về tỷ trọng, chiếm lần lượt 15,9% (+0,1%) và 19,3% (+3,5%) trong quý IV/2020 so với quý liền kề.

Cổ phiếu ngân hàng thu hút giới đầu tư

Theo dự báo của FiinGroup, năm 2021 này, lợi nhuận kế toán của 12/26 ngân hàng niêm yết (chiếm 86,3% vốn hóa của khối ngân hàng) được dự báo sẽ tăng cao hơn so với năm 2020 (18,2% so với 14,9%).

Các chuyên gia FiinGroup cho rằng, triển vọng tích cực này được dự báo đến từ cả hoạt động tín dụng cũng như tiếp tục câu chuyện về doanh thu dịch vụ trong đó đặc biệt là bán chéo bảo hiểm (bancasurance) của nhiều ngân hàng (bao gồm VCB, CTG, ACB, MSB và HDB). Các ngân hàng được kỳ vọng có lợi nhuận tăng mạnh bao gồm VCB (14,9%), BID (41,3%) và CTG (41,9%). Một số ngân hàng được dự báo chậm lại về tăng trưởng là TCB (5,1%), VPB (2,8%) và TPB (6,7%).

Với giả định 12 ngân hàng này không chi trả cổ tức cho năm 2020, P/B (giá/giá trị sổ sách) dự phóng năm 2021 của khối ngân hàng là 1,8 lần, tương đương mức của năm 2018.

Theo TS. Lê Đức Khánh - Giám đốc Phát triển năng lực đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS (VPS), nhóm ngân hàng tiếp tục là nhóm nhận được sự quan tâm từ giới đầu tư với những cổ phiếu điển hình: TCB, VPB, VIB, MBB, CTG, BID, ACB, MBB… Các ngân hàng được dự báo sẽ có tăng trưởng lợi nhuận sau thuế khoảng 18% năm 2021 này.

“Triển vọng tích cực này được dự báo đến từ cả hoạt động tín dụng, nhất là các ngân hàng lớn như: VCB, CTG, ACB và HDB, cũng như tiếp tục câu chuyện về doanh thu dịch vụ trong đó đặc biệt là thu nhập từ hoạt động bancasurance của nhiều ngân hàng” – ông Lê Đức Khánh cho hay.

Ngoài ra, theo chuyên gia của VPS, một số ngân hàng còn có dự báo lợi nhuận tăng mạnh như VCB (14,9%), BID (41,3%) và CTG (41,9%) trong khi một số ngân hàng được dự báo tăng trưởng lợi nhuận chậm lại trong năm 2021 này, bao gồm TCB (5,1%), VPB (2,8%) và TPB (6,7%).


Hải Băng

Hải Băng

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17981 18255 18828
CAD 18151 18427 19044
CHF 31123 31501 32151
CNY 0 3832 3928
EUR 29362 29583 30662
GBP 34254 34645 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14643 15231
SGD 19906 20188 20755
THB 697 760 814
USD (1,2) 25737 0 0
USD (5,10,20) 25776 0 0
USD (50,100) 25804 25818 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30