Mô hình cho vay ngang hàng, không còn tình trạng "tranh tối, tranh sáng"

Tú Anh
(TBTCO) - Sau thời gian dài triển khai với nhiều mô hình biến tướng, phát triển chệch hướng gây tiềm ẩn rủi ro cho người vay và nhà đầu tư, chỉ gần 2 tháng nữa, mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) sẽ chính thức được định hình lại, mở ra cơ hội phát triển mới trong khuôn khổ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
aa
Mô hình cho vay ngang hàng, không còn tình trạng "tranh tối, tranh sáng"
Cho vay ngang hàng là hình thức kết nối trực tiếp giữa người đi vay và người cho vay thông qua nền tảng trực tuyến. Ảnh minh họa

Theo quảng cáo trên website, Công ty T gia nhập lĩnh vực công nghệ tài chính cách đây 10 năm, với vai trò là đơn vị cung cấp nền tảng cho vay ngang hàng (P2P Lending) hàng đầu và đã hỗ trợ 10 triệu người vay và thu hút gần 100 nghìn nhà đầu tư tham gia. Mô hình vay P2P Lending tại Công ty T gồm 4 bước, đó là người vay đăng ký trực tuyến chỉ trong khoảng 1 phút, sau đó hệ thống lập tức kết nối đơn vay với người cho vay phù hợp. Hồ sơ được xét duyệt nhanh chóng, sau khi được chấp thuận, tiền vay sẽ được chuyển về tài khoản ngân hàng hoặc nhận tiền mặt.

Nhiều mô hình P2P Lending đi chệch hướng

Một trong những điểm mạnh nổi bật của mô hình cho vay ngang hàng là khả năng kết nối trực tiếp giữa người có tiền nhàn rỗi và người cần vay vốn thông qua nền tảng trực tuyến, thay vì cần vai trò trung gian của các tổ chức tài chính truyền thống. Nhờ đó, người vay có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn, thủ tục nhanh chóng, đa dạng hình thức vay, mức lãi suất có thể cạnh tranh. Với phân khúc khách hàng cá nhân, các nền tảng P2P thường cung cấp nhiều lựa chọn vay như: vay tín chấp dựa trên lương, hộ khẩu, đăng ký xe máy, hoặc đăng ký xe ô tô.

Quan ngại lãi suất cao và tình trạng cho vay biến tướng

"Các khoản vay trên nền tảng P2P Lending thường là khoản vay nhỏ, không có tài sản đảm bảo, tức đa phần là vay tín chấp. Với đặc điểm đó, rủi ro nợ xấu là rất cao, nợ xấu tại nhiều công ty có thể lên tới hơn 50% để bù đắp rủi ro, buộc các công ty phải đẩy lãi suất lên để bù đắp rủi ro. Do đó, lãi suất của P2P Lending tại Việt Nam hiện nay thường cao hơn nhiều so với ngân hàng". PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, nhiều mô hình P2P Lending tại Việt Nam lại "biến tướng" khỏi mô hình gốc, không còn là nền tảng trung lập kết nối hay mang đúng bản chất của một nền tảng cho vay ngang hàng.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên Công ty T cho biết, tại khu vực Hà Nội, công ty hiện chỉ còn hỗ trợ khoản vay theo đăng ký xe ô tô mà không hỗ trợ vay theo đăng ký xe máy. Theo nhân viên Công ty T, trong trường hợp khách hàng không sở hữu ô tô, hồ sơ khách có nhu cầu vay sẽ được chuyển sang đối tác phù hợp để được tư vấn thêm. Sau khi nghe tư vấn, khách hàng quyết định tiếp tục làm hồ sơ hoặc yêu cầu hủy nếu không có nhu cầu, tránh bị làm phiền. Nhân viên này cũng đặc biệt lưu ý khách hàng nếu có bên thứ ba yêu cầu chuyển tiền trước khi giải ngân, khách hàng tuyệt đối không thực hiện để tránh rủi ro lừa đảo.

Ngay sau đó, một số nền tảng như True Money Vay, Tâm An Finance tư vấn các khoản vay theo đăng ký xe máy chính chủ từ năm 2015, với tổng các phí lên tới 5,5 - 6%/tháng; hoặc hỗ trợ vay trực tiếp dựa trên thông tin sao kê tài khoản ngân hàng.

Bức tranh cho vay ngang hàng đầy "mảng tối" khi xuất hiện tình trạng xuất hiện tình trạng một số công ty P2P Lending thực chất hoạt động như "cò" tín dụng, giới thiệu khách hàng cho các bên cầm đồ. Qua đó, bên cầm đồ hoặc tín dụng đen dễ dàng tiếp cận người có nhu cầu vay và trực tiếp triển khai hoạt động cho vay vớt lãi suất cao và đòi nợ kiểu “khủng bố".

Thậm chí, cách đây vài năm, một số nền tảng mất khả năng thanh khoản như: VO247, Fiin Credit, khiến nhà đầu tư hoang mang.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, cho vay ngang hàng phát triển từ lâu tại Việt Nam và cũng có nhiều đơn vị triển khai, song phần lớn các hoạt động cho vay P2P lại bị biến tướng, núp bóng tín dụng đen hoặc "cò" môi giới tín dụng. Trước đây, có một đơn vị nổi bật ban đầu vận hành đúng theo mô hình P2P, kết nối trực tiếp người đi vay và cho vay, nhưng sau đó lại chuyển đổi mô hình.

Tạo cơ chế thử nghiệm, định hình lại cho vay ngang hàng

Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng từng nhận định, trong hoạt động P2P Lending, một số công ty lấy danh nghĩa mô hình P2P Lending lợi dụng sự thiếu kiến thức, hiểu biết của người dân để lừa bịp, gian dối, quảng cáo sai sự thật, hứa hẹn lợi nhuận cao, lãi suất cao để lừa đảo, chiếm đoạt tiền vốn của người dân bỏ tiền đầu tư mô hình cho vay này hoặc lừa dối người vay về lãi suất thấp, điều kiện vay ưu đãi trong khi tính và áp dụng mức lãi suất thực tế cao “cắt cổ”, tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân.

Bên cạnh đó, các thỏa thuận giữa các bên trong mô hình P2P Lending, bao gồm giữa công ty P2P Lending với nhà đầu tư, với bên thứ ba hoặc với người vay, vẫn còn thiếu minh bạch và rõ ràng. Nhiều hợp đồng chưa có tính ràng buộc pháp lý đầy đủ, đồng thời thiếu cơ chế giám sát và hậu kiểm hiệu quả đối với việc sử dụng và quản lý nguồn vốn vay. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu nại giữa các bên tham gia.

Sau gần 4 năm từ khi ban hành Nghị quyết 100/NQ-CP ngày 6/9/2021 về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (fintech), mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định

94/2025/NĐ-CP quy định cơ chế thử nghiệm kiểm soát trong ngân hàng (Nghị định 94) và có hiệu lực kể từ ngày 1/7 tới đây.

Ông Trần Thế Vĩnh - Tổng Giám đốc Tima đánh giá, Nghị định 94 là một cột mốc quan trọng để toàn ngành P2P Lending tại Việt Nam thử nghiệm các giải pháp tài chính thay thế có tính chất đổi mới sáng tạo, an toàn và minh bạch, đảm bảo góp phần hiện thực hóa chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện.

Theo Nghị định 94, các giải pháp công nghệ tài chính được phép tham gia thử nghiệm gồm: chấm điểm tín dụng, chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và cho vay ngang hàng.

Mở cơ chế, cho phép thử nghiệm có kiểm soát

Cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành ngân hàng, góp phần phổ cập tài chính minh bạch, an toàn và chi phí thấp. Cơ chế này tạo môi trường để đánh giá rủi ro, lợi ích của các giải pháp fintech, hỗ trợ phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường và quy định pháp lý. Đồng thời, cơ chế giúp hạn chế rủi ro cho khách hàng sử dụng dịch vụ fintech. Kết quả thử nghiệm sẽ là căn cứ thực tiễn để cơ quan chức năng hoàn thiện khung pháp lý và quy định quản lý liên quan nếu cần thiết.

Việc triển khai thử nghiệm các giải pháp fintech được giới hạn trên lãnh thổ Việt Nam, không được thực hiện thử nghiệm xuyên biên giới. Thời gian thử nghiệm các giải pháp Fintech tối đa 2 năm tùy từng giải pháp và lĩnh vực cụ thể tính từ thời điểm được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận tham gia cơ chế thử nghiệm.

Nghị định 94 quy định rõ các điều kiện và tiêu chí tham gia cơ chế thử nghiệm đối với các giải pháp fintech. Theo đó, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể được cấp giấy chứng nhận tham gia cơ chế thử nghiệm. Cùng với đó, công ty fintech Việt Nam cũng được tham gia cơ chế khi đáp ứng các điều kiện như: không có vốn đầu tư nước ngoài, người đại diện hợp pháp là công dân Việt Nam, có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; hệ thống công nghệ đặt tại Việt Nam, đảm bảo an toàn, bảo mật, có dự phòng kỹ thuật và được kiểm thử trước khi vận hành.

Đặc biệt, Nghị định 94 cũng quy định rõ các tiêu chí khi thử nghiệm triển khai hình thức cho vay ngang hàng. Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện giám sát các tổ chức tham gia để đánh giá hoạt động thử nghiệm và giải pháp fintech liên quan.

Tú Anh

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80