Ngân hàng đồng loạt hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó trước đại dịch Covid-19

Gia Cư
Cùng với các chính sách hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, đồng loạt các ngân hàng thương mại đang ứng biến linh hoạt trong việc hỗ trợ giảm lãi suất cho vay đã phần nào chia sẻ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp cầm cự sản xuất trong thời điểm dịch bệnh hiện nay.
aa

anh moi

Ngân hàng HDbank đồng hành cùng doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19. Ảnh: CTV

Đối tượng tiếp cận các gói hỗ trợ rất thấp

Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Hồ Chí Minh, triển khai nghị quyết 09 của HĐND thành phố (TP) về gói hỗ trợ an sinh xã hội, đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã chi cho 5 đối tượng với hơn 387.000 tỷ đồng, bao gồm: Đối tượng lao động tự do, mất việc làm. Việc hỗ trợ cho đối tượng này đạt 99,9% số người đã được tiếp nhận.

Tuy nhiên, theo ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh, đối tượng lao động tại các doanh nghiệp được tiếp cận các gói hỗ trợ rất thấp, đơn cử như lao động chấm dứt hợp đồng nhưng chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thì gần như chưa tiếp cận được. Hiện nay theo thống kê trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, đối tượng này có khoảng 18.981 người.

Tiếp đến là những đối tượng tạm hoãn lao động, nghỉ việc, nghỉ không lương, trong đó, tại TP. Hồ Chí Minh thống kê có gần 56.000 người nhưng cũng chỉ mới tiếp cận, giải quyết được cho hơn 10.000 người. Đối với hộ kinh doanh cá thể, thống kê có hơn 4.000 hộ, mới giải quyết được 15%; tiểu thương buôn bán ở chợ mới chỉ được hỗ trợ 17% với hơn 4.300/25.600 hộ.

“Trong tháng 7/2021, mặc dù TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết rất tích cực, nhưng rõ ràng, đối tượng, người lao động tại các doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận đúng, có lẽ do phương pháp làm, cách giải quyết đâu đó còn chưa ổn. Tới đây, cùng với Nghị quyết 68/NQ-CP, phương thức giải quyết cho đối tượng này sẽ có sự thay đổi”- ông Chu Tiến Dũng thừa nhận.

Đối với chính sách giãn, giảm thuế cho doanh nghiệp, hiện nay TP.Hồ Chí Minh đã chấp nhận cho hơn 58.000 doanh nghiệp đề xuất xin giãn, giảm nợ thuế, hơn 17.000 hộ kinh doanh cá thể với tổng số tiền hơn 14.500 tỷ đồng. Tuy nhiên theo lãnh đạo hiệp hội, phần quan trọng nhất của doanh nghiệp chính là nguồn vốn. Doanh nghiệp luôn mong đợi chính sách hỗ trợ này từ các giải pháp của ngân hàng.

Trước thực tế này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai Thông tư 01/2020/TT-NHNN, Thông tư 03/2021/TT-NHNN. Tính đến hết tháng 6/2021, tổng số dư nợ của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn TP thực hiện trên 1.200 tỷ đồng với hơn 400 ngàn khách hàng đã áp dụng chính sách ưu đãi này. Trong đó, vấn đề cơ cấu lại nợ, trả nợ, thời hạn trả nợ cho 183.000 khách hàng, với tổng dư nợ đạt 218.500 tỷ đồng, miễn giảm lãi suất cho 131.400 khách hàng với số dư nợ là 11.317 tỷ đồng.

Mặt khác, ngân hàng cũng đã tiếp nhận đối với gần 800 trường hợp doanh nghiệp đề xuất hỗ trợ, trong đó có 778 hồ sơ được giải quyết. Thông qua chương trình kết nối doanh nghiệp và ngân hàng, trong thời điểm giãn cách, ngân hàng thực hiện việc kết nối trực tuyến, thực hiện kết nối cho vay khoảng 107.315 tỷ đồng cho 12.357 khách hàng. Ngân hàng cũng đã giải quyết nhanh các yêu cầu của doanh nghiệp với tinh thần cầu thị.

Riêng Ngân hàng Chính sách xã hội, do nguồn vốn hạn hẹp nên số vốn cho vay hỗ trợ không nhiều. Ông Trần Văn Tiên, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội TP.Hồ Chí Minh cho biết, ngày 19/7 vừa qua, ngân hàng này đã có hướng dẫn hồ sơ cho 8 trường hợp người sử dụng lao động xin vay để trả lương cho hơn 3.000 lao động với số tiền vay là 13 tỷ đồng.

“Đó là chương trình cho vay giải quyết việc làm, nếu các doanh nghiệp vay vốn để tạo việc làm cho người lao động, thì có thể vay vốn tối đa được 2 tỷ đồng thôi. Hiện nay chúng tôi cũng không cho vay được nhiều, bởi vì lượng vốn giải quyết việc làm TP cấp cho Ngân hàng Chính sách xã hội hàng năm cũng không nhiều. Thậm chí năm nay cũng chưa được cấp, do đó cũng khó khăn”- ông Trần Văn Tiên nêu vấn đề.

Các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất

Hiện nay, 50% khó khăn của doanh nghiệp là nguồn vốn. Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Thông tư 01 và Thông tư 03. Thông tư 01 được đánh giá là cởi mở, cơ cấu lại nợ, điều chuyển lãi vay, không trả lãi hoặc không chuyển nhóm nợ. Tuy nhiên, việc cởi mở này khiến việc cho vay cũng tiềm ẩn nguy cơ.

Trong khi đó, Thông tư 03 ban hành ra nhằm quy định chặt chẽ hơn để hạn chế các nguy cơ và yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai chính sách hỗ trợ chính xác và cần phải có trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn cho hệ thống.

Hiện Thông tư 03 triển khai bắt đầu từ ngày 17/5 đến nay mới chỉ được hơn 2 tháng, trong khoảng thời gian này, diễn biến dịch quá nhanh nên đến thời điểm này, Thông tư 03 lại có những điểm không còn phù hợp với tình hình thực tế.

Theo Tiến sĩ Lê Thị Kim Xuân, Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, cái vướng của Thông tư 03 là thời hạn trả nợ kéo dài và tất cả các khoản nợ chỉ được kéo dài trong vòng 12 tháng. Điều này sẽ rất khó khăn với các khoản cho vay trung và dài hạn. Việc khắc phục những bất cập của thông tư cần phải có thời gian. Do đó mới đây, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã họp trực tuyến với các ngân hàng, tổ chức tín dụng trao đổi các giải pháp tháo gỡ khó khăn. Theo đó, các ngân hàng đều đồng thuận sẽ giảm lãi suất cho vay.

“Căn cứ vào thực lực nguồn vốn cũng như chính sách tín dụng của từng ngân hàng để các ngân hàng có những giải pháp cụ thể, đảm bảo hỗ trợ vốn vay. Tuy nhiên cũng theo ý kiến các ngân hàng, lãi suất giảm cũng phải hỗ trợ cho đúng đối tượng khách hàng đang có khó khăn thực sự, đảm bảo ưu tiên cho các đối tượng sản xuất kinh doanh, các mặt hàng thiết yếu hoặc các doanh nghiệp đang có đơn hàng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh Covid-19. Việc hỗ trợ giảm lãi suất cho vay này, các doanh nghiệp đồng thuận sẽ hỗ trợ triển khai từ ngày 15/7 đến hết năm 2021. Hiện đã có nhiều ngân hàng ra thông báo giảm lãi suất. Đây là tín hiệu rất đáng mừng”- Tiến sĩ Lê Thị Kim Xuân cho hay.

Theo đó, đầu tiên có 3 ngân hàng Sacombank, ACB, MB, tiếp theo có các ngân hàng tham gia cùng như: Vietcombank, BIDV, Tiên Phong bank, Agribank, Ngân hàng Quốc tế VIB, Ngân hàng Bản Việt. Mức giảm lãi suất của các ngân hàng dao động từ 0,8% - 1,2%/năm và phổ biến bình quân 1%/năm so với lãi suất hiện hành tùy theo từng đối tượng khách hàng, tùy theo chính sách của từng ngân hàng.

Cụ thể, Ngân hàng ACB thông báo giảm lãi suất cho các khách hàng hiện hữu với mức tối đa là 0,8%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 1% đối với cho vay trung, dài hạn. Ngân hàng này còn triển khai thêm gói ưu đãi 10.000 tỷ đồng với mức lãi suất tối thiểu là 6% cho khách hàng doanh nghiệp và 7% cho khách hàng cá nhân.

Hiện Sacombank cũng đã giảm lãi suất 1% cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân đang có khoản vay tại Sacombank thuộc các ngành chịu tác động trực tiếp như: du lịch, lữ hành, vận tải, nhà hàng, khách sạn, nghỉ dưỡng, giáo dục, y tế. Bản Việt cũng đã hỗ trợ triển khai gói hỗ trợ 9.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn giảm đến 2%/năm.

HDbank và BIDV cũng đã thông báo giảm lãi suất cho 18.000 khách hàng với mức giảm bình quân từ 1% cho 3 nhóm khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Đây cũng là các ngân hàng đầu tiên ưu tiên cho việc giảm lãi suất cho các khách hàng thuộc địa bàn giãn cách, phong tỏa theo Chỉ thị 16 trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh.

Với việc cùng đồng thuận giảm lãi suất cho vay từ các ngân hàng, điều này sẽ phần nào hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong tình cảnh hiện nay./.

(Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ)

Gia Cư

Gia Cư

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80