Ngân hàng đồng loạt hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó trước đại dịch Covid-19

Gia Cư
Cùng với các chính sách hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, đồng loạt các ngân hàng thương mại đang ứng biến linh hoạt trong việc hỗ trợ giảm lãi suất cho vay đã phần nào chia sẻ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp cầm cự sản xuất trong thời điểm dịch bệnh hiện nay.
aa

anh moi

Ngân hàng HDbank đồng hành cùng doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid-19. Ảnh: CTV

Đối tượng tiếp cận các gói hỗ trợ rất thấp

Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Hồ Chí Minh, triển khai nghị quyết 09 của HĐND thành phố (TP) về gói hỗ trợ an sinh xã hội, đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã chi cho 5 đối tượng với hơn 387.000 tỷ đồng, bao gồm: Đối tượng lao động tự do, mất việc làm. Việc hỗ trợ cho đối tượng này đạt 99,9% số người đã được tiếp nhận.

Tuy nhiên, theo ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh, đối tượng lao động tại các doanh nghiệp được tiếp cận các gói hỗ trợ rất thấp, đơn cử như lao động chấm dứt hợp đồng nhưng chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thì gần như chưa tiếp cận được. Hiện nay theo thống kê trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, đối tượng này có khoảng 18.981 người.

Tiếp đến là những đối tượng tạm hoãn lao động, nghỉ việc, nghỉ không lương, trong đó, tại TP. Hồ Chí Minh thống kê có gần 56.000 người nhưng cũng chỉ mới tiếp cận, giải quyết được cho hơn 10.000 người. Đối với hộ kinh doanh cá thể, thống kê có hơn 4.000 hộ, mới giải quyết được 15%; tiểu thương buôn bán ở chợ mới chỉ được hỗ trợ 17% với hơn 4.300/25.600 hộ.

“Trong tháng 7/2021, mặc dù TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết rất tích cực, nhưng rõ ràng, đối tượng, người lao động tại các doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận đúng, có lẽ do phương pháp làm, cách giải quyết đâu đó còn chưa ổn. Tới đây, cùng với Nghị quyết 68/NQ-CP, phương thức giải quyết cho đối tượng này sẽ có sự thay đổi”- ông Chu Tiến Dũng thừa nhận.

Đối với chính sách giãn, giảm thuế cho doanh nghiệp, hiện nay TP.Hồ Chí Minh đã chấp nhận cho hơn 58.000 doanh nghiệp đề xuất xin giãn, giảm nợ thuế, hơn 17.000 hộ kinh doanh cá thể với tổng số tiền hơn 14.500 tỷ đồng. Tuy nhiên theo lãnh đạo hiệp hội, phần quan trọng nhất của doanh nghiệp chính là nguồn vốn. Doanh nghiệp luôn mong đợi chính sách hỗ trợ này từ các giải pháp của ngân hàng.

Trước thực tế này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai Thông tư 01/2020/TT-NHNN, Thông tư 03/2021/TT-NHNN. Tính đến hết tháng 6/2021, tổng số dư nợ của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn TP thực hiện trên 1.200 tỷ đồng với hơn 400 ngàn khách hàng đã áp dụng chính sách ưu đãi này. Trong đó, vấn đề cơ cấu lại nợ, trả nợ, thời hạn trả nợ cho 183.000 khách hàng, với tổng dư nợ đạt 218.500 tỷ đồng, miễn giảm lãi suất cho 131.400 khách hàng với số dư nợ là 11.317 tỷ đồng.

Mặt khác, ngân hàng cũng đã tiếp nhận đối với gần 800 trường hợp doanh nghiệp đề xuất hỗ trợ, trong đó có 778 hồ sơ được giải quyết. Thông qua chương trình kết nối doanh nghiệp và ngân hàng, trong thời điểm giãn cách, ngân hàng thực hiện việc kết nối trực tuyến, thực hiện kết nối cho vay khoảng 107.315 tỷ đồng cho 12.357 khách hàng. Ngân hàng cũng đã giải quyết nhanh các yêu cầu của doanh nghiệp với tinh thần cầu thị.

Riêng Ngân hàng Chính sách xã hội, do nguồn vốn hạn hẹp nên số vốn cho vay hỗ trợ không nhiều. Ông Trần Văn Tiên, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội TP.Hồ Chí Minh cho biết, ngày 19/7 vừa qua, ngân hàng này đã có hướng dẫn hồ sơ cho 8 trường hợp người sử dụng lao động xin vay để trả lương cho hơn 3.000 lao động với số tiền vay là 13 tỷ đồng.

“Đó là chương trình cho vay giải quyết việc làm, nếu các doanh nghiệp vay vốn để tạo việc làm cho người lao động, thì có thể vay vốn tối đa được 2 tỷ đồng thôi. Hiện nay chúng tôi cũng không cho vay được nhiều, bởi vì lượng vốn giải quyết việc làm TP cấp cho Ngân hàng Chính sách xã hội hàng năm cũng không nhiều. Thậm chí năm nay cũng chưa được cấp, do đó cũng khó khăn”- ông Trần Văn Tiên nêu vấn đề.

Các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất

Hiện nay, 50% khó khăn của doanh nghiệp là nguồn vốn. Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Thông tư 01 và Thông tư 03. Thông tư 01 được đánh giá là cởi mở, cơ cấu lại nợ, điều chuyển lãi vay, không trả lãi hoặc không chuyển nhóm nợ. Tuy nhiên, việc cởi mở này khiến việc cho vay cũng tiềm ẩn nguy cơ.

Trong khi đó, Thông tư 03 ban hành ra nhằm quy định chặt chẽ hơn để hạn chế các nguy cơ và yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai chính sách hỗ trợ chính xác và cần phải có trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn cho hệ thống.

Hiện Thông tư 03 triển khai bắt đầu từ ngày 17/5 đến nay mới chỉ được hơn 2 tháng, trong khoảng thời gian này, diễn biến dịch quá nhanh nên đến thời điểm này, Thông tư 03 lại có những điểm không còn phù hợp với tình hình thực tế.

Theo Tiến sĩ Lê Thị Kim Xuân, Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, cái vướng của Thông tư 03 là thời hạn trả nợ kéo dài và tất cả các khoản nợ chỉ được kéo dài trong vòng 12 tháng. Điều này sẽ rất khó khăn với các khoản cho vay trung và dài hạn. Việc khắc phục những bất cập của thông tư cần phải có thời gian. Do đó mới đây, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã họp trực tuyến với các ngân hàng, tổ chức tín dụng trao đổi các giải pháp tháo gỡ khó khăn. Theo đó, các ngân hàng đều đồng thuận sẽ giảm lãi suất cho vay.

“Căn cứ vào thực lực nguồn vốn cũng như chính sách tín dụng của từng ngân hàng để các ngân hàng có những giải pháp cụ thể, đảm bảo hỗ trợ vốn vay. Tuy nhiên cũng theo ý kiến các ngân hàng, lãi suất giảm cũng phải hỗ trợ cho đúng đối tượng khách hàng đang có khó khăn thực sự, đảm bảo ưu tiên cho các đối tượng sản xuất kinh doanh, các mặt hàng thiết yếu hoặc các doanh nghiệp đang có đơn hàng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh Covid-19. Việc hỗ trợ giảm lãi suất cho vay này, các doanh nghiệp đồng thuận sẽ hỗ trợ triển khai từ ngày 15/7 đến hết năm 2021. Hiện đã có nhiều ngân hàng ra thông báo giảm lãi suất. Đây là tín hiệu rất đáng mừng”- Tiến sĩ Lê Thị Kim Xuân cho hay.

Theo đó, đầu tiên có 3 ngân hàng Sacombank, ACB, MB, tiếp theo có các ngân hàng tham gia cùng như: Vietcombank, BIDV, Tiên Phong bank, Agribank, Ngân hàng Quốc tế VIB, Ngân hàng Bản Việt. Mức giảm lãi suất của các ngân hàng dao động từ 0,8% - 1,2%/năm và phổ biến bình quân 1%/năm so với lãi suất hiện hành tùy theo từng đối tượng khách hàng, tùy theo chính sách của từng ngân hàng.

Cụ thể, Ngân hàng ACB thông báo giảm lãi suất cho các khách hàng hiện hữu với mức tối đa là 0,8%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 1% đối với cho vay trung, dài hạn. Ngân hàng này còn triển khai thêm gói ưu đãi 10.000 tỷ đồng với mức lãi suất tối thiểu là 6% cho khách hàng doanh nghiệp và 7% cho khách hàng cá nhân.

Hiện Sacombank cũng đã giảm lãi suất 1% cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân đang có khoản vay tại Sacombank thuộc các ngành chịu tác động trực tiếp như: du lịch, lữ hành, vận tải, nhà hàng, khách sạn, nghỉ dưỡng, giáo dục, y tế. Bản Việt cũng đã hỗ trợ triển khai gói hỗ trợ 9.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn giảm đến 2%/năm.

HDbank và BIDV cũng đã thông báo giảm lãi suất cho 18.000 khách hàng với mức giảm bình quân từ 1% cho 3 nhóm khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Đây cũng là các ngân hàng đầu tiên ưu tiên cho việc giảm lãi suất cho các khách hàng thuộc địa bàn giãn cách, phong tỏa theo Chỉ thị 16 trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh.

Với việc cùng đồng thuận giảm lãi suất cho vay từ các ngân hàng, điều này sẽ phần nào hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong tình cảnh hiện nay./.

(Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ)

Gia Cư

Gia Cư

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80