Ngân hàng “lên sàn” ngoại: Nhiều lợi ích kép

Diệu Thiện (thực hiện)
(TBTCVN) - Hiện thực hóa được mục tiêu đưa ngân hàng Việt niêm yết trên sàn chứng khoán nước ngoài sẽ thúc đẩy cải thiện về chất của ngành Ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam; đồng thời qua đó sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính, đầu tư thế giới…
aa

Các ngân hàng Việt

Các ngân hàng Việt niêm yết thành công trên sàn chứng khoán ngoại sẽ là chất xúc tác để gia tăng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia mạnh mẽ vào thị trường tài chính Việt Nam.

Đây là chia sẻ của chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu, với phóng viên TBTCVN.

* PV: Thưa ông, theo định hướng tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2021 – 2025, Chính phủ hướng tới mục tiêu Việt Nam có ít nhất từ 3 đến 5 ngân hàng (NH) niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Ông đánh giá như thế nào về mục tiêu này?

- Ông Nguyễn Trí Hiếu: Tôi cho rằng, đây là một mục tiêu rất tốt và nếu hiện thực hóa được mục tiêu này sẽ mang lại rất nhiều ý nghĩa không chỉ đối với riêng ngành NH mà còn đối với cả nền kinh tế Việt Nam.

Ông Nguyễn Trí Hiếu

Ông Nguyễn Trí Hiếu

Trước hết, khi các NH Việt niêm yết thành công trên sàn chứng khoán ngoại sẽ là chất xúc tác để gia tăng thu hút, mời gọi các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài tham gia mạnh mẽ vào thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam. Hiện nay chúng ta cũng có một số cổ đông nước ngoài tại một số NH lớn, nhưng phần lớn cổ đông đó đến từ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc… Do đó, với việc NH Việt niêm yết trên sàn chứng khoán nước ngoài sẽ là cơ hội tốt để đa dạng hóa NĐT tham gia vào TTTC Việt Nam, nhất là NĐT đến từ những nước phát triển như Mỹ, khu vực châu Âu.

Cần nhấn mạnh rằng, khi NĐT nước ngoài tham gia mạnh mẽ vào TTTC Việt Nam họ không chỉ đem vốn vào đầu tư, mà quan trọng hơn đó là họ cũng sẽ cung cấp cho ngành NH những chuẩn mực, thông lệ tốt trong quản trị, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm…, từ đó sẽ thúc đẩy cải thiện về chất của TTTC Việt Nam.

Bên cạnh đó, thực hiện được mục tiêu niêm yết NH Việt trên sàn chứng khoán ngoại cũng có nghĩa là chúng ta đang từng bước thực hiện toàn cầu hóa TTTC Việt Nam, xây dựng một hệ thống NH lành mạnh, theo chuẩn mực quốc tế. Qua đó sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính, đầu tư thế giới.

* PV: Vậy đâu là cơ hội, thách thức đối với việc thực hiện mục tiêu này, thưa ông?

- Ông Nguyễn Trí Hiếu: Trước hết về cơ hội có thể thấy, năm 2020 toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19, khiến nhiều nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực có mức tăng trưởng âm. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên là một “điểm sáng giữa bầu trời u ám”, khi chúng ta đạt được mức tăng trưởng dương trong cả 3 quý năm 2020 và dự báo cả năm 2020 Việt Nam vẫn tăng trưởng dương và ở mức tương đối khá. Trong bối cảnh tương lai vẫn tương đối bất định, song nhiều định chế tài chính thế giới vẫn lạc quan dự báo kinh tế Việt Nam sẽ nhanh chóng phục hồi trong năm 2021 và đạt được mức tăng trưởng khá cao, chẳng hạn như IMF dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 là 7%...

Như vậy có thể thấy, đây là cơ hội rất lớn của Việt Nam, nếu Việt Nam tiếp tục duy trì được đà khôi phục nền kinh tế như hiện nay, cũng như cho cả năm 2021 và những năm tiếp theo. Một nền kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng tốt sẽ là “bệ đỡ” để các NH Việt có thể niêm yết thành công cổ phiếu trên sàn chứng khoán nước ngoài.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội cũng có những thách thức không nhỏ. Cụ thể, Việt Nam là một nước có độ mở nền kinh tế cao, nên nếu dịch Covid-19 ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới tái bùng phát mạnh, các nước phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa trong thời gian tới, thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng. Theo đó, những rủi ro, thách thức này sẽ có những tác động nhất định đến ngành NH, TTTC Việt Nam và do đó sẽ là lực cản đối với nỗ lực niêm yết trên sàn chứng khoán ngoại của các NH Việt.

Ngoài ra, trong hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn còn khoảng hơn 1/3 NH chưa đáp ứng được yêu cầu (của Thông tư 41/2016/TT-NHNN) về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn Basel II. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam nói chung và là điểm bất lợi đối với việc thực hiện mục tiêu “lên sàn” ngoại của các NH.

* PV: Để hiện thực hóa mục tiêu “lên sàn” ngoại của các NH Việt, theo ông cần làm gì?

- Ông Nguyễn Trí Hiếu: Tôi cho rằng đây là mục tiêu đầy tham vọng song không phải là không thể thực hiện được. Để hiện thực hóa được mục tiêu này cần sự nỗ lực từ cả phía ngành NH và Chính phủ.

Đối với các NH, cần có chiến lược, kế hoạch cụ thể để đáp ứng đầy đủ các trụ cột theo chuẩn Basel II. Bởi Basel II hướng tới nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả, lành mạnh và năng lực cạnh tranh của hệ thống NH. Do vậy, các NH càng đáp ứng tiêu chuẩn Basel II sớm sẽ càng tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và đó là “điểm cộng” để các NH thực hiện thành công mục tiêu “lên sàn” ngoại. Đặc biệt, các NH cần chú trọng đến vấn đề quản trị doanh nghiệp tốt theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế…

Về phía Chính phủ, để hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu niêm yết trên sàn chứng khoán nước ngoài của các NH Việt, cần có kế hoạch, giải pháp để nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên.

* PV: Xin cảm ơn ông!

Mục tiêu là khả thi

Hiện tại, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước không khuyến khích đầu tư. Nếu ở mức tín nhiệm quốc gia hiện tại, các ngân hàng muốn ra thị trường chứng khoán thế giới thường phải trả lãi suất rất cao cho các cổ phiếu và chưa chắc đã hấp dẫn nhà đầu tư, do vậy khó có thể phát hành cổ phiếu thành công. Bởi vậy, Việt Nam phải nỗ lực nâng thêm một nấc nữa mới qua được vùng không khuyến khích đầu tư. Tôi cũng lạc quan cho rằng, với lộ trình 5 năm, mục tiêu đưa 3 đến 5 ngân hàng Việt lên sàn ngoại là có khả năng khả thi.

Diệu Thiện (thực hiện)

Diệu Thiện (thực hiện)

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80