Thị trường tiền tệ tuần 13/3 – 17/3:

Ngân hàng Mỹ phá sản chưa có ảnh hưởng dây chuyền, tỷ giá và lãi suất đều giảm

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến thu hút sự quan tâm nhất trên thị trường tiền tệ quốc tế tuần qua là những vấn đề liên quan đến động thái của Chính phủ Mỹ trong việc chèo chống khủng hoảng phá sản ngân hàng. Trong khi đó tại thị trường trong nước, động thái giảm lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục củng cố thêm lòng tin của giới đầu tư về xu hướng hạ nhiệt của lãi suất, qua đó tạo thuận lợi hơn cho các hoạt động kinh tế thời gian tới.
aa

Kiểm soát ảnh hưởng của ngân hàng Mỹ phá sản

Sự kiện sụp đổ của Silicon Valley Bank (SVB) và Signature Bank (SB) dù đã diễn ra từ cuối tuần trước, nhưng động thái của Chính phủ Mỹ liên quan đến giải pháp với các ngân hàng này vẫn là những thông tin trọng tâm diễn ra trong tuần này. Theo đó, ngay vào đầu tuần, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã thiết lập một cơ sở khẩn cấp mới để cho phép các ngân hàng cầm cố một loạt tài sản chất lượng cao lấy tiền mặt trong thời hạn một năm. Các cơ quan quản lý cũng cam kết sẽ bảo vệ đầy đủ kể cả những người gửi tiền không được bảo hiểm.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng đưa ra dự báo việc lộ trình tăng lãi suất của FED có thể sẽ phải xem xét lại sau sự kiện sụp đổ của các ngân hàng vừa diễn ra. Không những thế, nhiều ngân hàng trung ương khác trên thế giới có thể cũng sẽ phải tạm trì hoãn các kế hoạch tăng lãi suất. Chính sách tiền tệ của các nước thay vì ưu tiên mục tiêu thắt chặt để kiểm soát lạm phát như trước đây sẽ phải điều chỉnh theo hướng nới lỏng hơn (hoặc ít thắt chặt hơn) để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống tài chính và nền kinh tế trong tình hình hiện nay.

Ngân hàng Mỹ phá sản chưa có ảnh hưởng dây chuyền, tỷ giá và lãi suất đều giảm
Ngân hàng Mỹ phá sản trở thành tâm điểm của giới tài chính toàn cầu. Ảnh: T.L

Lãi suất điều hành trong nước giảm

Tại thị trường tiền tệ trong nước, động thái đáng chú ý nhất trong tuần qua là việc NHNN đã công bố 2 quyết định quan trọng giảm các mức lãi suất điều hành.

Kinh tế toàn cầu còn nhiều diễn biến phức tạp

Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, tiềm ẩn nguy cơ suy thoái, xung đột Nga-Ukraine tiếp tục kéo dài. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với nhiều bất trắc, lạm phát dù đã có dấu hiệu hạ nhiệt và qua đỉnh nhưng vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao tại nhiều nền kinh tế.

Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023: IMF (01/2023): 2,9%; WB (01/2023): 1,7%; trong khi dự báo lạm phát được điều chỉnh tăng: IMF (01/2023): 6,6% (trước đó dự báo 6,5%) và 4,3% năm 2024 (trước đó là 4,1%).

Cụ thể, Quyết định số 313 /QĐ-NHNN giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 6%/năm, giảm lãi suất tái chiết khấu từ 4,5%/năm xuống 3,5%/năm. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng giảm từ 7,0%/năm xuống 6,0%/năm.

Quyết định số 314/QĐ-NHNN giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế từ 5,5%/năm xuống 5,0%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này giảm từ 6,5%/năm xuống 6,0%/năm.

Việc giảm lãi suất điều hành của NHNN tiếp tục cho thấy ngành ngân hàng vẫn đang cố gắng thực hiện các giải pháp để đưa mặt bằng lãi suất, đặc biệt là lãi suất cho vay xuống thấp hơn nữa. Theo đó, lãi suất hạ thấp cũng sẽ tạo thêm động lực cho doanh nghiệp tiết giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Ngoài ra, lãi suất hạ cũng là tín hiệu tích cực cho thị trường bất động sản, hỗ trợ tăng thanh khoản cho thị trường này.

Ngân hàng Mỹ phá sản chưa có ảnh hưởng dây chuyền, tỷ giá và lãi suất đều giảm
Dự trữ ngoại hối dồi dào là yếu tố thuận lợi cho việc ổn định tỷ giá. Ảnh: T.L

Tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối dồi dào

Tuần qua, tỷ giá vẫn tiếp tục diễn biến theo chiều hướng ổn định. Tỷ giá trung tâm đầu tuần ghi nhận ở mức 23.638 đồng/USD, sau một phiên giảm mạnh ngày thứ ba đã có những phiên điều chỉnh với biên độ rất nhẹ sau đó, chốt tuần ở mức 23.620 đồng, thấp hơn 18 đồng so với đầu tuần.

Tại Vietcombank, tỷ giá đầu tuần ghi nhận ở mức 23.370/23.400/23.740 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra) và cũng có một tuần diễn biến êm ả. Chốt tuần, tỷ giá tại Vietcombank là 23.380/23.410/23.750 đồng/USD, chỉ tăng nhẹ 10 đồng so với đầu tuần.

NHNN cho biết, từ tháng 1/2023 đã mua được ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước và đưa lượng tiền lớn VND vào lưu thông. Giữa tháng 3/2022, tỷ giá trung tâm ở mức hiện tăng khoảng 0,1% so với cuối năm 2022; tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng giảm 0,1% so với cuối năm 2022. Tỷ giá niêm yết mua/bán của Vietcombank tương đương mức cuối năm 2022.​

Vàng tăng súc hút nhờ khủng hoảng ngân hàng

Khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ trở thành yếu tố giúp người nắm giữ vàng hưởng lợi do dòng tiền chuyển dịch sang nắm giữ vàng để phòng vệ rủi ro. Giá vàng trong nước do đó cũng tăng theo cùng với diễn biến chung của giá vàng thế giới.

Giá vàng đã tăng ngay hôm đầu tuần, ghi nhận giá vàng miếng SJC hôm 13/3 là 66,3 triệu đồng/lượng mua vào và 67,02 triệu đồng/lượng bán ra, tăng khoảng 150 đồng/lượng so với cuối tuần trước. Trong các ngày tiếp theo, giá vàng vẫn diễn biến theo chiều hướng tăng cho dù xen kẽ cũng có một số thời điểm điều chỉnh. Đến phiên cuối tuần ngày 17/3, giá vàng miếng SJC 9999 ở mức 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,22 triệu đồng/lượng bán ra, tăng khoảng 200 nghìn đồng/lượng so với đầu tuần.

Định hướng cho xu hướng giảm lãi suất, nhưng rủi ro lạm phát vẫn còn

NHNN cho biết, việc giảm lãi suất điều hành là bước đi quan trọng, định hướng cho xu hướng giảm lãi suất của thị trường trong thời gian tới, qua đó định hướng tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặc dù vậy, áp lực lạm phát vẫn còn lớn trong bối cảnh lạm phát 2 tháng đầu năm 2023 đã tăng sát mức mục tiêu 4,5% ngay từ đầu năm 2023; lạm phát toàn cầu được dự báo tiếp tục duy trì ở mức cao.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 30/3, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 đồng/USD, đi ngang so với phiên cuối tuần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,25% lên 100,15 điểm, cho thấy USD tiếp tục mạnh lên. Trong nước, tỷ giá USD tự do bật tăng 110 đồng, vượt mốc 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲270K 17,560 ▲310K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲270K 17,550 ▲310K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,930 ▲310K 17,330 ▲310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,880 ▲310K 17,280 ▲310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,810 ▲310K 17,260 ▲310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
NL 99.90 15,570 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▲70K
Trang sức 99.9 16,690 ▲300K 17,390 ▲300K
Trang sức 99.99 16,700 ▲300K 17,400 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲20K 17,552 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲20K 17,553 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 171 ▲2K 175 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 171 ▲2K 1,751 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 169 ▲2K 1,735 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,282 ▲2970K 171,782 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,388 ▲2250K 130,288 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,242 ▲2040K 118,142 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,096 ▲1831K 105,996 ▲1831K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,411 ▲1750K 101,311 ▲1750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,607 ▲1251K 72,507 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cập nhật: 08/04/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18086 18361 18940
CAD 18498 18775 19394
CHF 32709 33094 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30131 30405 31430
GBP 34538 34930 35875
HKD 0 3230 3432
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15055 15642
SGD 20122 20405 20931
THB 737 800 853
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,289 30,313 31,569
JPY 162.16 162.45 171.22
GBP 34,733 34,827 35,817
AUD 18,265 18,331 18,907
CAD 18,722 18,782 19,351
CHF 32,997 33,100 33,871
SGD 20,272 20,335 21,009
CNY - 3,791 3,912
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 784.92 794.61 845.79
NZD 15,027 15,167 15,522
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,054 4,171
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,180.73 - 6,934.66
TWD 750.22 - 903.26
SAR - 6,912.47 7,236.31
KWD - 83,726 88,536
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26361
AUD 18194 18294 19219
CAD 18668 18768 19785
CHF 32900 32930 34516
CNY 3792.9 3817.9 3954
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30267 30297 32022
GBP 34759 34809 36569
HKD 0 3355 0
JPY 162.69 163.19 173.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20260 20390 21111
THB 0 764.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17320000 17320000 17620000
SBJ 16000000 16000000 17620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,361
USD20 26,159 26,209 26,361
USD1 26,159 26,209 26,361
AUD 18,267 18,367 19,479
EUR 30,434 30,434 31,842
CAD 18,624 18,724 20,029
SGD 20,331 20,481 21,048
JPY 163.06 164.56 169.1
GBP 34,673 35,023 36,150
XAU 17,398,000 0 17,702,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80